Nghệ Thuật


Nghiệp có thể thay đổi. Con người hoàn toàn có thể làm chủ vận mạng của mình, thông qua những nỗ lực chuyển hóa bản thân mà không phải cầu xin một vị thần thánh, hay phụng cúng một vì tinh tú nào
Trước nhiều câu hỏi của bạn đọc về nguồn gốc của tín niệm cúng sao giải hạn, quan điểm của Phật giáo về vấn đề đó như thế nào? xin giới thiệu lại bài khảo cứu công phu dưới đây, từng được đăng trên nguyệt san Giác Ngộ - phụ trương nghiên cứu Phật học của Báo Giác Ngộ phát hành hàng tháng. Bài nghiên cứu của tác giả có tựa đề đầy đủ: "Khảo sát về tín niệm cúng sao giải hạn trong Đại tạng kinh Đại chính Tân tu".


Chờ đợi các vì sao

Kẻ ngu hỏng điều lành,

Ðiều lành chiếu điều lành,

Sao trời làm được gì?(1)

Đức Phật đã chỉ rõ: Các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu(2). Nghiệp có thể thay đổi. Con người hoàn toàn có thể làm chủ vận mạng của mình, thông qua những nỗ lực chuyển hóa bản thân mà không phải cầu xin một vị thần thánh, hay phụng cúng một vì tinh tú nào. Đó là một trong những điểm khác biệt căn bản giữa Phật giáo và các triết phái tư tưởng tôn giáo khác tại Ấn Độ nói chung và Bà-la-môn giáo nói riêng.

Theo kinh Phật thuyết Phạm võng lục thập nhị kiến do cư sĩ Chi Khiêm dịch, đã cho thấy sự vận hành của trời, đất trăng sao được các nhà hiền triết thời ấy quan tâm sâu sắc: Có người chủ trương mặt trời mọc từ Đông sang Tây, kẻ khác thì chủ trương từ Tây sang Đông. Có người chủ trương mặt trăng và các vì sao chuyển động từ Đông sang Tây, kẻ khác thì chủ trương từ Tây sang Đông(3). Không những thế, trong kinh điển Phật giáo thường ghi lại, có những vị Phạm chí nắm vững ba kinh, thông đạt ngũ điển, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý(4). Với Bà-la-môn giáo nói chung thì kiến thức về thiên văn và những lễ nghi tế tự trăng sao, là một trong những yêu cầu quan trọng, để hình thành nên phẩm chất căn bản của một vị Bà-la-môn(5).

Tín niệm thờ cúng trăng sao trong truyền thống Ấn Độ

Bà-la-môn giáo là một tôn giáo đa thần. Trăng sao đối với người Bà-la-môn là những vị thần có năng lực đặc biệt(6). Trong vô vàn những vì tinh tú, trăng sao, thì niềm tin vào chín vị sao, Phạn ngữ gọi là Navagraha, Trung Hoa dịch là Cửu diệu(7), là một tín niệm có lịch sử hình thành rất sớm, có cơ sở lý luận rõ ràng và hiện còn được tiếp tục duy trì tại một số khu vực ở Ấn Độ.

Theo cách hiểu xưa nay, khi bàn về thờ tự trăng sao, cụ thể là tín niệm cúng sao giải hạn, phần lớn đều cho rằng đó là một tín niệm có nguồn gốc từ Trung Hoa. Tuy nhiên, căn cứ theo William Monier(8)William Edward Soothill(9), thì tập tục phụng cúng các vì sao cũng như quan điểm về chín vị sao (Cửu diệu) vốn có mặt từ lâu trong triết học về thiên văn và ngành chiêm tinh của Ấn giáo.

Theo Ấn giáo, ngoài niềm tin về 27 vị sao(10) (theo Atharvaveda thì cho rằng 28), thì còn có khái niệm Navagraha(11) trong thiên văn nhằm mô tả về chín vị thần cai quản, là những vị thần chính có ảnh hưởng đến các sinh vật trên trái đất. Tất cả các Navagraha đều tương ứng với chuyển động của các ngôi sao nhất định trong vòng hoàng đạo. Tên tuổi của các vị sao theo chiêm tinh Ấn giáo là Āditya (Surya, Nhật diệu); Soma (Chandra, Nguyệt diệu); Amgāraka (Mangala, Hỏa diệu); Budha (Thủy diệu); Vhaspati (Bṛhaspati, Mộc diệu); ‘Sukra (Shukra, Kim diệu); Sanaiscara (Shani, Thổ diệu); Rāhu (La hầu); Ketu (Kế đô)(12). Bằng chứng khảo cổ hiện còn là hai bức tượng đá mô tả về chín vị sao này, được bảo lưu tại hai thư viện lớn là Anh và Pháp (ảnh đính kèm).

Hiện nay, tín niệm thờ tự chín vị sao đặc biệt này còn được trân trọng phụng thờ tại bang Tamil Nadu ở Ấn Độ. Thậm chí, trong năm 2014, Tổng Công ty Phát triển du lịch Tamil Nadu (Tamilnadu Tourism Development Corp.) còn thiết kế một tour du lịch bốn đêm ba ngày dành cho du khách có nhu cầu chiêm bái chín ngôi đền thờ nổi tiếng này(13).

Như vậy, tín niệm thờ tự trăng sao thực sự có nguồn gốc từ Ấn giáo. Trong quá trình thăng trầm và phát triển của Phật giáo, tín niệm thờ tự chín vị sao của Ấn giáo đã từng bước du nhập, định hình khá cụ thể và chi tiết trong kinh văn Hán tạng, cụ thể  là trong ĐTKĐCTT.

Tín niệm thờ cúng trăng sao trong Mật giáo, thuộc ĐTKĐCTT

Trong ĐTKĐCTT, nơi ghi lại nhiều thông tin về tín niệm thờ tự trăng sao cũng như các pháp thức cúng sao giải hạn, tập trung vào tập Mật tông thứ 21.

Trước hết, tên gọi cũng như hình ảnh mô phỏng về chín vị sao của Ấn giáo và những bài chú tương ứng được ghi lại đầy đủ trong Phạm Thiên hỏa la cửu diệu(14), số 1.311; Tú diệu nghi quỹ(15), số 1.304; Thất diệu nhương tai quyết(16), quyển thượng, số 1.308 và Bắc đẩu thất tinh hộ ma pháp(17), số 1.310.

Trong những tác phẩm vừa nêu thì Phạm Thiên hỏa la cửu diệu (Brahma-horanavagraha) là một tác phẩm đặc biệt quan trọng liên quan đến đề tài. Vì đây chính là tác phẩm mang tính tư liệu của Thiền sư Nhất Hạnh (683-727), được các đệ tử tập thành sau khi Thiền sư viên tịch. Theo Tống Cao tăng truyện(18), Thiền sư Nhất Hạnh là người rất giỏi lịch Pháp, đã từng học Mật giáo với Tam tạng Kim Cang Trí, cùng với ngài Vô Úy dịch kinh Tỳ-lô-giá-na. Ở đây, trong tác phẩm Phạm Thiên hỏa la cửu diệu, nội dung cơ bản mô tả chín vị sao tương tự như Ấn giáo cùng những nội dung mang tính đặc dị, không mang màu sắc Phật giáo, được thể hiện cụ thể ở những điểm sau.

- Thứ nhất, chín vị sao được mô tả lần lượt là: La hầu (còn gọi là La sư, Hoàng phan); Thổ tú; Bắc thần (còn gọi là Sàm tinh, Trích tinh); Thái bạch; Thái dương; Huỳnh hoặc (còn gọi là Tứ lợi, Hư hán); Kế đô (còn gọi là Báo vỹ hay Đại ẩn); Thái âm và Tuế tinh (còn gọi là Mộc tinh, Thái tuế, Nhiếp đề). Chín vị sao này không liên quan đến kinh văn chính thống của Phật giáo.

- Thứ hai, trong tác phẩm này, dấu ấn của Bà-la-môn giáo thể hiện rất rõ trong hình vẽ về chín vị thần biểu hiện cho nhật nguyệt tinh tú. Thậm chí, nhân dạng của sao Thổ tú được mô tả như một vị Bà-la-môn (其 形 如 波 羅 門). Không những thế, những đồ tùy tế, vật dụng của những vị tinh tú trong tác phẩm Phạm Thiên hỏa la cửu diệu có nhiều chi tiết rất giống với hai bức điêu khắc đã dẫn ở trên, mô tả về chín vị sao trong truyền thống của Bà-la-môn giáo.

- Thứ ba, ngay như tên gọi của chín vị sao, cũng được phiên âm từ ngôn ngữ Ấn Độ. Đơn cử như sao Kế đô (計都), theo Phạn ngữ tạp danh(19), thì sao Kế đô được phiên âm từ chữ Kātu của Phạn ngữ. Nhất thiết kinh âm nghĩa(20) cũng xác nhận rằng Kế đô nguyên là Phạn ngữ, ngôn ngữ nhà Đường gọi là Tràng vực hoặc Tiết thủ chấp(21).

- Thứ tư, các khái niệm cơ bản của tín niệm phụng thờ Thượng đế, trăng sao như: mạng người phụ thuộc cõi trời cao xanh (人 命 屬 高 倉 天); đến tuổi gặp phải sao này (行 年 至 此 宿 者); nếu gặp sao xấu thì nên cúng tế, thì sẽ tránh được những điều không thuận lợi, tức biến xấu thành tốt, nếu không tin thì sẽ biến tốt thành xấu (若 遇 惡 星 須 攘 之. 諸 不 逆 其 所 犯. 即 變 凶 成 吉. 不 信 即 變 吉 成 凶.)… đã khẳng định rằng, đây là những khái niệm của các tôn giáo phụng thờ thượng đế, đa thần.

Từ bốn điểm phân tích nêu trên, cho thấy rằng khởi nguồn của tín niệm thờ tự trăng sao, cúng sao giải hạn sở dĩ xuất hiện trong những lễ nghi của Phật giáo, có cơ sở từ bản kinh này. Bản kinh này cũng được xem là một trong những điểm khởi đầu thể hiện cho sự giao thoa, tiếp biến những tín niệm của Ấn giáo vào trong Phật giáo.

Trong liên hệ vương quyền, cụ thể là vào thời nhà Đường, đã có những quan tâm của những bậc vua chúa đối với xu hướng thần bí, quyền năng. Theo Tống Cao tăng truyện, vua Đường Huyền Tông (712-756) khâm phục sự thần diệu của ngài Kim Cang Trí (671?-741)(22), Thiền sư Nhất Hạnh (683-727)(23), ngài Thiện Vô Úy (637-735)(24) nên đã cung kính đảnh lễ, phụng tôn. Đường Đại Tông (762-779) quan tâm và ban hiệu Đại Quảng Trí Tam tạng cho ngài Bất Không (705-774)(25).  Đặc biệt, Đường Duệ Tông (710-712) và cả Đường Huyền Tông vô cùng nể trọng Thiền sư Nhất Hạnh, cả hai cầu thỉnh ngài vào Tập hiền viện trước tác và phiên dịch kinh thư. Khi Thiền sư Nhất Hạnh viên tịch, Đường Huyền Tông còn ban thụy là Đại Tuệ thiền sư(26). Xem ra, khởi đầu của Mật giáo Trung Hoa đã được các vua nhà Đường quan tâm và hỗ trợ.

Có thể nói, sự ủng hộ nhiệt thành của các bậc vương quyền cũng là một trong những tiền đề để những trước tác của Mật giáo được chính thức quảng bố, nhập tạng và lưu hành. Đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi, để tín niệm thờ phụng trăng sao thể hiện trong tác phẩm Phạm Thiên hỏa la cửu diệu của Thiền sư Nhất Hạnh, được bắt rễ trong những hình thức lễ nghi của Phật giáo.

Như vậy, trong quá trình phát triển của Phật  giáo, đã có những tín niệm của Bà-la-môn và tín niệm dân gian trộn lẫn vào hình thức, lễ nghi, thậm chí ảnh hưởng cả về mặt tư tưởng của Phật giáo. Ngài Ấn Thuận (1906-2005) đã chứng minh nguồn gốc cụ thể về những trường hợp này(27). Ở đây, việc chỉ ra những tín niệm không phải bản chất của Phật giáo cũng là một khát vọng chính đáng của đệ tử Phật, nhằm góp phần giữ gìn sự thuần nhất của Phật giáo. Do vậy, việc điểm qua những bản kinh mang hơi thở thờ phụng Thượng đế, trăng sao, như hình thức cúng sao giải hạn có mặt trong ĐTKĐCTT, cũng là một trong những phương cách góp phần vào xu thế đó.

Những bản kinh thư thuộc Mật giáo liên quan đến tín niệm sao hạn

Trong ĐTKĐCTT, các tác phẩm liên quan đến Mật giáo là nơi có sự ảnh hưởng nhiều nhất của tín niệm phụng thờ tinh tú, thần linh. Trong khả năng có thể, chúng tôi xin chỉ ra một vài bộ kinh thư với những dấu hiệu rõ ràng, mang tính tiêu biểu.

Phật thuyết đại oai đức kim luân Phật đảnh Xí Thạnh Quang Như Lai tiêu trừ nhất thiết tai nạn Đà-la-ni kinh(28), 1 quyển, ĐTKĐCTT, tập 19, số 0964, không rõ người dịch. Nội dung: Đề cập bài chú như bản kinh, ai trì tụng thì có thể thoát tai nạn, dù gặp sao xấu như La hầu, Kế đô chiếu thân.

Phật mẫu Đại Khổng Tước minh vương(29), 3 quyển, ĐTKĐCTT, tập 19, số 0982, do Sa-môn Bất Không dịch. Nội dung: Ở quyển hạ, nói rằng, nếu ai trì tụng chú này, thì sẽ được Nhị thập bát tú, Cửu diệu phù trì, ủng hộ.

Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát cập chư tiên sở thuyết cát hung thời nhật thiện ác tú diệu kinh(30), 2 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1.299, do Sa-môn Bất Không dịch. Nội dung: Mô tả Nhị thập bát tú, các vì sao trong mỗi tháng, cách thức chọn ngày, chọn giờ, lịch tốt xấu của Nhị thập thất tú…

Ma Đăng Già kinh(31), 2 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1.300, đời Ngô, do Trúc Luật Viêm và Chi Khiêm cùng dịch. Nội dung: quyển 1, mô tả câu chuyện mẹ nàng Chiên Đà La dùng thần chú khống chế A Nan. Quyển 2, mô tả Nhị thập bát tú cùng những ảnh hưởng tốt xấu, lượng độ, hình mạo…

Xá Đầu Gián thái tử Nhị thập bát tú kinh(32), 1 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1301, do Tam tạng Trúc Pháp Hộ dịch. Nội dung: Mô tả chi tiết về 28 vị sao, sao nào xuất hiện thì thuận lợi việc nào. Bản kinh giao thoa giữa chuyện tiền thân Đức Phật và tín niệm thờ phụng tinh tú.

Phật thuyết Thánh Diệu Mẫu đà-la-ni kinh(33), 1 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1303, do Pháp Thiên dịch. Nội dung: Mô tả bài chú như tựa đề bản kinh, tán thán nếu ai trì chú này sẽ được lợi ích. Các sao xấu ác, nghe chú này đều hoan hỷ, không não hại chúng sanh.

Tú diệu nghi quỹ(34), 1 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1.304, do Thiền sư Nhất Hạnh soạn. Nội dung: Hướng dẫn các thủ ấn và các bài thần chú liên quan đến các vì sao (như Nhị thập bát tú, Cửu diệu, Bắc đẩu thất tinh…).

Bắc đẩu thất tinh niệm tụng nghi quỹ(35), 1 quyển ĐTKĐCTT, tập 21, số 1305, do Tam tạng Kim Cang Trí dịch. Nội dung: Đề cập Bát tinh chú và tán thán những ai thường xuyên trì tụng chú này.

Bắc đẩu Thất tinh hộ ma bí yếu nghi quỹ(36), 1 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1.306, do Đại Hưng Thiện Tự, Phiên Kinh Viện, Quán Đảnh A Xà Lê ghi lại. Nội dung: Hướng dẫn làm đàn tràng, hình thức ấn chú, Đỉnh luân vương chơn ngôn và Triệu Bắc đẩu chơn ngôn.

Phật thuyết Bắc đẩu Thất tinh diên mệnh kinh(37), 1 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1307, do một tu sĩ Bà-la-môn đem kinh này đến cho nhà Đường thọ trì. Nội dung: Mô tả bảy vị sao và các tinh phù mang tính bản địa (Trung Hoa) và tán thán những lợi ích khi thọ trì, cúng dường bản kinh này.

Thất diệu nhương tai quyết(38), 2 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1.308, do tu sĩ Bà-la-môn Kim Câu Trá soạn tập. Nội dung:  Mô tả tinh phù và các cách thức tế tự những vì sao, lượng độ an nguy khi gặp những vị sao và cách thức hóa giải.

Thất diệu tinh thần biệt hành pháp(39), 1 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1309 do Thiền sư Nhất Hạnh soạn. Nội dung: Đề cập 12 vị sao tương ứng với 12 tháng, mô tả thần dạng của ba mươi vị sao, các hình thức tế tự và những lợi ích tương ứng.

Bắc đẩu thất tinh hộ ma pháp(40), 1 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1.310, do Thiền sư Nhất Hạnh soạn. Nội dung: Hướng dẫn các thủ ấn, nội dung các thần chú liên quan đến Nhị thập bát tú, Cửu diệu, Diên mệnh chơn ngôn

Phạm thiên hỏa la cửu diệu(41), 1 quyển, ĐTKĐCTT, tập 21, số 1311, do Thiền sư Nhất Hạnh soạn. Nội dung: Mô tả hình ảnh chín vị sao và những thần chú tương ứng, cách khắc phục sao xấu và tuổi gì thì do sao nào chiếu mạng.

Nan Nhĩ Kế Thấp Phọc La thiên thuyết chi luân kinh(42), 1 quyển ĐTKĐCTT, tập 21, số 1312, do Pháp Hiền phụng chiếu dịch. Nội dung: Vị trời Nan Nhĩ Kế Thấp Phọc La chỉ bày cho con người tránh khỏi các sao xấu bằng cách trì tụng kinh Chi luân.

Có thể nói,  tín niệm thờ phụng tinh tú, cúng sao giải hạn không chỉ có mặt đậm nét trong những bản kinh thư thuộc Mật bộ, mà còn được phát hiện rải rác ở những đoạn ngắn, trong những bản kinh lớn như kinh Hoa nghiêm, kinh Đại phương đẳng đại tập, kinh Kim quang minh… thuộc ĐTKĐCTT. Vấn đề này sẽ được trình bày trong một chuyên đề khác.

Nhận định và đề nghị

Cùng với quá trình phát triển của Phật giáo, Bà-la-môn giáo đã có những bước vận động chuyển mình. Trong dòng chảy biến thiên của lịch sử, của bối cảnh xã hội, tại Ấn Độ cũng như tại Trung Hoa, Phật giáo và Bà-la-môn giáo đã có những giao thoa tiếp biến với nhau. Quá trình này có thể có chủ ý hoặc diễn ra bằng con đường tự nhiên.

Ở đây, sự có mặt của tín niệm Bà-la-môn giáo như việc thờ phụng tinh tú, trời thần, qua hình thức cúng sao, giải hạn sở dĩ được tập thành trong kinh điển Hán tạng, có mặt trong nghi lễ Phật giáo, là dấu hiệu minh chứng cho quá trình giao thoa và tiếp biến nêu trên.

anh minh hoa.jpg
Triết lý về sự chi phối của Thượng đế, của trăng sao, 
không phù hợp với tôn chỉ căn bản của Phật giáo - Ảnh chỉ mang tính minh họa

Là một tôn giáo chủ trương phủ định một cái ngã thường hằng, xác tín mọi cá nhân đều bình đẳng trước hành nghiệp của mình như Phật giáo, thì triết lý về sự chi phối của Thượng đế, của trăng sao, không phù hợp với tôn chỉ căn bản.

Với khảo sát bước đầu, đã chỉ ra 15 bộ kinh thư thuộc Mật giáo, không những mang nội dung không đúng với tôn chỉ của Phật giáo, mà còn cổ xúy cho tín niệm của tôn giáo khác, thì cần phải có một phương thức ứng xử phù hợp.

Trong ĐTKĐCTT có một mục lưu giữ các bản kinh chứa những yếu tố nghi ngờ là Ngoại giáo bộ, nên chăng, 15 bản kinh thư nêu trên cần được xem xét đưa vào bộ loại này. Theo thiển ý của người viết, nhằm góp phần ngăn ngừa những tập tục không phù hợp với pháp Phật, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cụ thể là Viện Nghiên cứu Phật học Việt nam, nên có những khuyến nghị cần thiết đối với các cơ quan in ấn và xuất bản, về những trường hợp mà chúng tôi đã nêu ra. Trong liên hệ gần hơn, việc cấp thiết và có ý nghĩa trước mắt là không nên chuyển dịch những bản kinh đó ra tiếng Việt để quảng bố, lưu hành(43).

Chúc Phú

__________________

(1) Kinh Tiểu bộ, tập 4, chương 1, Chuyện các vì sao, số 49.

(2) Kinh Trung bộ, tập 3, Tiểu kinh nghiệp phân biệt, số 135.

(3) 大正新脩大藏經第 01 冊 No.0021 梵網六十二見經. Nguyên văn: 一人言日從東西行. 一人言從西東行.  一人言月星宿. 從東西行.  一人言從西東行.

(4) 大正新脩大藏經第 03 冊 No.0154 生經卷第一. Nguyên văn: 綜練三經. 通達五典. 上知天文. 下Ô­地理.

(5) Etienne Lamotte, History of Indian Buddhism, Paris: Institut Orientaliste Louvain-La-Neuve, 1988, tr.2.

(6) Maurice Winternitz, A History of Indian Literature, Vol 3. Delhy: Motilal Banarsidass, 1998,  tr.694.

(7) Đinh Phúc Bảo, Phật học Đại từ điển, quyển thượng, Phật Đà giáo dục Cơ Kim Hội ấn hành, 2012, tr.176.

(8) William Monier, Sanskrit-English Dictionary, tr.531.

(9) William Edward Soothill, A Dictionary of Chinese Buddhist Terms. London: Kegan Paul, Trench, Trubner & Co., Ltd. 2005, tr.18.

(10) Maurice Winternitz, A History of Indian Literature, Vol 1. Delhy: Motilal Banarsidass, 1990,  p. 269; Cf: http://en.wikipedia.org/wiki/Nakshatra; Maurice Winternitz, A History of Indian Literature, Vol 3. Delhy: Motilal Banarsidass, 1998,  tr.680.

(11) http://en.wikipedia.org/wiki/Navagraha.

(12) Constance A. Jones and James D. Ryan, Encyclopedia of Hinduism. New York: Facts on File, 2007. p. 94; 103-104; 275-276; 428.

(13) https://www.trsiyengar.com/id21.shtml.

(14)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1311 梵天火羅九曜.

(15)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1304 宿曜儀軌.

(16) 大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1308 七曜攘災決.

(17)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1310 北斗七星護摩法.

(18)大正新脩大藏經第 50 冊 No. 2061 宋高僧傳卷第五.

(19)大正新脩大藏經第 54 冊 No. 2135 梵語雜名.

(20)大正新脩大藏經第 54 冊 No. 2128 一切經音義.

(21)大正新脩大藏經第 54 冊 No. 2128 一切經音義, 卷第三十六.

(22) 大正新脩大藏經第 50 冊 No. 2061 宋高僧傳傳卷第一.

(23)大正新脩大藏經第 50 冊 No. 2061 宋高僧傳卷第五.

(24)大正新脩大藏經第 50 冊 No. 2061 宋高僧傳卷第二.

(25)大正新脩大藏經第 50 冊 No. 2061 宋高僧傳傳卷第一.

(26)大正新脩大藏經第 50 冊 No. 2061 宋高僧傳卷第五.

(27) 印順法師, 妙雲集, 下編之三, 以佛法研究佛法.

(28)大正新脩大藏經第 19 冊 No. 0964 佛說大威德金輪佛頂熾盛光如來消除一切災難陀羅尼經.

(29)大正新脩大藏經第 19 冊 No. 0982 佛母大孔雀明王經.

(30)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1299 文殊師利菩薩及諸仙所說吉凶時日善惡宿曜經.

(31)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1300 摩登伽經.

(32)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1301 舍頭諫太子二十八宿經. Theo, Đinh Phúc Bảo, Phật học đại từ điển, quyển thượng, Phật Đà giáo dục Cơ Kim Hội ấn hành, 2012, tr. 584, thì đây cũng là một bản dịch khác của 太子明星二十八宿經. Điều này cũng được ghi nhận trong Lịch đại Tam bảo ký, quyển bốn.

(33)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1303 佛說聖曜母陀羅尼經.

(34)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1304 宿曜儀軌.

(35)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1305 北斗七星念誦儀軌.

(36)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1306 北斗七星護摩祕要儀軌.

(37)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1307 佛說北斗七星延命經.

(38)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1308 七曜攘災決.

(39)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1309 七曜星辰別行法.

(40)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1310 北斗七星護摩法.

(41)大正新脩大藏經第 21 冊 No. 1311 梵天火羅九曜.

(42)大正新脩大藏經第 21 冊 No.1312 難儞計濕嚩囉天說支輪經.

(43) Được biết, bản kinh Phật thuyết kinh Bắc đẩu thất tinh diên mệnh được HT.Thích Viên Đức soạn dịch trong bộ Mật tông, NXB.Phương Đông ấn hành năm 2009, tr.620. Bản kinh này cũng được được NXB.Tôn Giáo ấn hành vào năm 2009, qua bản dịch của Phúc Thiện. Đây cũng là bản kinh nằm trong danh mục 15 bản kinh chứa những yếu tố nghi ngờ, đã được chúng tôi phân tích ở trên.

1) Nam Mô Hắt Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da: Bổn thân Quan-Âm Bồ-Tát hóa hiện tướng hành giả cầm chuỗi lễ tụng cầu Bồ-Tát cảm ứng.

2) Nam Mô A Rị Da: Quan-Âm hóa hiện tướng tay bưng Như-Ý Pháp-Luân. Hành giả y giáo phụng hành.

3) Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da: Quán-Âm hóa hiện tướng Quán-Tự-Tại trì bát. Hành giả quán tưởng khiến chúng sanh được trường thọ.

4) Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da: Quan Âm hiện thân Bất Không Quyên Sách Bồ Tát tự giác giác tha, phổ độ chúng sanh.

5) Ma Ha Tát Đỏa Bà Da: Quan Âm hiện tướng tụng chú, theo pháp tu trì, được thiện giải thoát.

6) Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da: Quan Âm hóa hiện tướng Mã-Minh Bồ Tát tự giác giác tha, tự đô tự tha.

7) Án: Quan Âm hóa hiện tướng các Thần Quỷ Vương chắp tay tụng chú. Chư Phật quán tưởng chữ Án thành chánh giác.

8 ) Tát Bàn Ra Phạt Duệ: Quan Âm hóa hiện tướng Tứ Đại Thiên Vương dùng lục độ hoá độ chúng ma.

9) Số Đát Na Đát Tỏa: Quan Âm hóa hiện tướng Bộ-Lạc Tứ Đại Thiên Vương khiến cải ác theo thiện.

10) Nam Mô Tất Cát Lật Đỏa Y Mông A Rị Da: Quan Âm hiện tướng Long Thọ Bồ Tát hộ trì người tu hành, hàng phục tất cả ma oán.

11) Bà Lô Kiết Đế: Quan Âm hiện tướng Phật Viên Mãn báo Thân Lô Xá Na rộng độ vô lượng chúng sanh.

12) Nam Mô Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Phật Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na gia hộ chúng sanh an lạc.

13) Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế: Quán Âm hiện tướng Dương Đầu Thần Vương hộ trì hành giả xa lìa loài ác thú.

14) Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Cam Lộ Vương tay cầm cành dương, tay cầm bình ngọc cam lộ độ chúng sanh.

15) A Thệ Dựng: Quán Âm hiện tướng Phi Đằng Dạ Xoa Thiên Vương tuần sát bốn phương khuyến thiện ngừng ác.

16) Tát Bà Tát Đa Na Ma Bà Tát Đa Na Ma Bà Già: Quán Âm hiện tướng Thần Vương Bà Già Bà Đế độ chúng sanh có duyên.

17) Ma Phạt Đạt Đậu: Quan Âm hiện tướng Quân Tra Lợi Bồ Tát mặt có ba con mắt cảm hóa ác nhơn hướng thiện.

18) Đát Điệt Tha: Quán Âm hiện tướng A La Hán thuyết pháp độ chúng sanh.

19) Án A Bà Lô Hê: Quan Âm hiện tướng Quan Âm Bồ Tát từ bi vô lượng cứu khổ ban vui.

20) Lô Ca Đế: Quan Âm hiện tướng Đại Phạm Thiên Vương ở trong mười phương thế giới độ thoát chúng sanh.

21) Ca Ra Đế: Quan Âm hiện tướng Đế Thần ở trong mười phương thế giới thường cứu chúng sanh.

22) Di Hê Rị: Quan Âm hóa hiện tướng Thiên Thần Ma Hê Đầu La thống lãnh thiên binh độ chúng sanh.

23) Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa: Quan Âm dùng tâm nguyện thanh tịnh, từ bi vô ngã cảm ứng độ người chân thật tu hành.

24) Tát Bà Tát Bà: Quan Âm hiện thân Bồ Tát Hương Tích điều phục năm phương chúng quỷ theo hầu cứu giúp chúng sanh.

25) Ma Ra Ma Ra: Quan Âm hiện Bạch Y Bồ Tát tay mặt cầm Như Ý, tay trái dắt đồng tử khiến chúng sanh được trường thọ.

26) Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng: Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà khiến chúng sanh khi hết thân nầy đồng sanh Cực Lạc quốc.

27) Cu Lô Cu Lô Yết Mông: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Không Thân hàng phục vạn ức thiên binh, hóa độ vô lượng chúng sanh.

28) Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế: Quan Âm hóa thân Bồ Tát Nghiêm Tuấn áp lãnh man binh Khổng Tước Vương hàng phục các ma oán.

29) Ma Ha Phạt Xà Da Đế: Quan Âm hóa hiện Đại Lực Thiên Tướng tay cầm Bảo Xử hộ trì chúng sanh, tinh tấn tu hành.

30) Đà La Đà La: Quan Âm hiện tướng trượng phu tu khổ hạnh khiến chúng sanh phá trừ ngã chấp pháp chấp.

31) Địa Rị Ni: Quan Âm hiện tướng Sư Tử Vương xét nghiệm người tụng chú khiến chúng sanh tiêu trừ tai họa.

32) Thất Phật Ra Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Thích Lịch tay cầm Kim Xử hàng phục các ma và quyến thuộc của chúng.

33) Giá Ra Giá Ra: Quan Âm hiện thân Bồ tát Tồi Toái tay cầm Kim Luân hóa độ oán ma điều phục tùng.

34) Mạ Mạ Phạt Ma Ra: Quan Âm hiện thân Đại Hàng Ma Kim Cang tay cầm Kim Luân hộ trì chúng sanh đắt đại cát tường.

35) Mục Đế Lệ: Quán Âm hiện tướng chư Phật, Bồ Tát chắp tay lắng lòng nghe tụng thần chú, hành giả phụng trì chứng đắt Phật quả.

36) Y Hê Y Hê: Quan Âm hiện thân Ma Hê Thủ La Thiên Vương cảm triệu nhơn thiên thuận tùng.

37) Thất Na Thất Na: Quán Âm hiện thân Ca Na Ma Tướng Thiên Vương, hóa lợi chư Thiên, không gây tai hại nhân gian.

38) A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi: Quan Âm hiện tướng tay cầm khiên, tay cầm cung tên kính tụng thần chú đắc pháp tự tại.

39) Phạt Xa Phạt Xâm: Quan Âm hiện thân Kim Khôi Đại Tướng cầm linh thuận thời giáo hóa độ chúng sanh.

40) Phật Ra Xá Da: Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà, chúng sanh tưởng niệm thì hiện tiền tương lai sẽ thấy Phật.

41) Hô Lô Hô Lô Ma Ra: Quán Âm Hiện Tướng Bát Bộ Thần Vương chắp tay niệm từ bi hàng phục chúng ma.

42) Hô Lô Hô Lô Hê Rị: Quan Âm hiện tướng Tứ Tý Tôn Thiên tay bưng Nhật Nguyệt chiếu sáng hóa độ nhơn thiên.

43) Ta Ra Ta Ra: Quan Âm hóa độ Phổ Đà Sơn hiển linh bất khả tư nghì, có ý nghĩa Ta-Bà khổ như núi non hiểm trở.

44) Tất Rị Tất Rị: Quán Âm hiện tướng mạo từ bi tay cầm cành dương, tay cầm tịnh bình rưới nước cam lồ cứu khổ độ sanh.

45) Tô Rô Tô Rô: Quán Âm hóa tướng lá cây rụng, chúng sanh nghe tiếng được bốn lợi ích: quán đảnh, mát thân, tâm vui, đầy đủ.

46) Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ: Quan Âm hiện tướng diện mạo từ bi thân cận trẻ con giáo hóa lợi ích chúng sanh.

47) Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng A Nan tôn giả tay cầm bình bát hóa độ chúng sanh.

48) Di Đế Rị Dạ: Quan Âm hiện tướng Di Lặc Bồ Tát chỉ dạy chúng sanh tu hạnh đại bi, được chơn giác ngộ an lạc.

49) Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Địa Tạng Bồ Tát khai ngộ chúng sanh tỉnh giác mê chấp, được thoát khổ ác đạo.

50) Địa Rị Sắc Ni Na: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Tràng tay kiết ấn, tay cầm Kim Xoa làm lợi ích chúng sanh.

51) Ba Dạ Ma Na: Quan Âm hiện tướng Bảo Kim Quang Tràng Bồ Tát cầm Bạt Chiết La Xử lợi ích độ sanh.

52) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng ba đầu Viên-Tịch Thắng-Nghĩa lợi ích độ sanh.

53) Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay kiết ấn Liêm Thủ thông đạt tất cả pháp.

54) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hằng Hà Sa đứng trên đầu rồng, dùng tâm cát tường hóa độ chúng sanh.

55) Ma Ha Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phóng-Quang tay cầm tràng phan báu lợi ích độ sanh.

56) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Mục Kiền Liên tay cầm tích trượng, bình bát dứt trừ tai ương, cứu độ chúng sanh.

57) Tất Đà Du Nghệ: Quan Âm hiện Tây Phương Cực Lạc, tất cả chư Thiên, Bồ Tát vân tập thính thọ pháp hỷ, hóa độ thập phương nhơn thiên.

58) Thất Bàn Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Thiên Nữ Tự Tại Viên Mãn

59) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả A-Xà-Na hoan hỷ bưng cao bình bát tăng trưởng tâm lợi ích độ sanh.

60) Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Sơn Hải Huệ tay cầm kiếm vàng hóa độ thánh-giả Tiểu-thừa.

61) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Chiên Đà La quảy nón lá vô trụ thắng nghĩa độ hóa chúng sanh.

62) Ma Ra Na Ra: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Ấn Vương tay cầm búa vàng Như Ý kiểm nghiệm tâm hạnh chúng sanh.

63) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Câu Hy La mang giầy cỏ đạp trên sóng nước phát sanh tiếng hải triều cảnh giác tâm chúng sanh.

64) Tất Ra Tăng A Mục Khê Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Dược Vương tay cầm dược thảo trừ bịnh khổ chúng sanh.

65) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Viên Mãn Bồ Tát thân mặc y đỏ chấp tay tâm viên mãn an lạc chúng sanh.

66) Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Dược Thượng Bồ Tát tay cầm bình ngọc giải trừ tật khổ chúng sanh.

67) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay cầm chơn kinh cứu cánh thắng nghĩa hóa đạo chúng sanh quy Tịnh Độ.

68) Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Thần Hổ gầm, tay cầm búa kiên định tâm hàng phục ma oán.

69) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng chư Thiên Ma Vương tay cầm Xà Thương hóa đạo chúng sanh giải trừ tâm oán hận.

70) Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Linh Hương Thiên Bồ Tát bưng lư Như Ý hộ trì chúng sanh.

71) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Tán Hoa Thiên Bồ Tát tay cầm bảo liên ngàn cánh thành tựu chúng sanh lợi ích an lạc.

72) Na Ra Cẩn Trì Bàn Già Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Tôn Giả Phú Lâu Na tay bưng bình bát cứu độ chúng sanh lìa tai nạn.

73) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Đà La Ni Từ tay bưng trái tươi bố thí độ sanh chân thật tu hành rõ pháp tánh không.

74) Ma Bà Lợi Thắng Yết Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Tam Ma Thiền Na kiết già trên bánh xe, tay bưng đèn ngọc sáng khắp pháp giới.

75) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Đại Ca Diếp tay trái cầm chuỗi, tay mặt cầm thiền trượng chỉ dẫn chúng sanh tu hành.

76) Nam Mô Hắc Ra Đa Ra Dạ Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hư Không Tạng cầm hoa ngồi trên đá khiến cho chúng sanh kiên định tín tâm dõng mãnh tinh tấn.

77) Nam Mô A Rị Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phổ Hiền kiết già thiền tọa trên Hương Tượng khiến chúng sanh viên mãn công hạnh.

78) Bà Lô Kiết Đế: Quan Âm hóa thân Bồ Tát Văn Thù ngồi trên sư tử tay chỉ hư không khến chúng sanh khai ngộ.

79) Thước Bàn Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng hoa sen ngàn cánh giải trừ chúng sanh ái sắc trần hư vọng, thấy tự tánh không.

80) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng buông thõng hai tay giải trừ nhĩ căn phân biệt thanh trần hư vọng, nghe tự tánh không.

81) Án Tất Điện Đô: Quan Âm hiện tướng mở hai bàn tay đoạn tỳ căn ái nhiễm hương trần, tự giác tánh không.

82) Mạn Đà Ra: Quan Âm hiện tay Đâu La Miên đoạn trừ căn ái nhiễm vị trần hư vọng, tự giác tánh không.

83) Bạt Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng tay bưng bát hương giải trừ tham ái chạm xúc, khiến chúng sanh đoạn thân căn xúc trần hư vọng, tự giác tánh không.

84) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tay cầm tràng phan giải trừ phân biệt các pháp, khiến chúng sanh đoạn ý căn chấp pháp trần hư vọng, biết tự tánh không.

Chú Thích 1: 2007. Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni Xuất Tượng. 1st Ed. NXB Tôn Giáo. Hà Nội. – vi.wikipedia.org.


84 hình ảnh minh họa Chú Đại Bi










































Bình An (ST)

Thứ hai, 18 Tháng 6 2018 11:33

Thần chú Đại bi, đủ hay thiếu?

LTS: Chú Đại bi là thần chú quen thuộc, rất phổ biến, được Tăng Ni và Phật tử trì tụng hàng ngày, có mặt hầu hết trong các kinh Nhật tụng và nghi thức tụng niệm. Lâu nay, trong giới Phật giáo, có nhiều ý kiến về việc chú Đại bi bị thiếu năm âm ‘na ma bà tát đa’ và đề nghị Giáo hội bổ sung để cho kinh Nhật tụng được hoàn chỉnh. Mặc dù các nhà nghiên cứu Phật học đã có nhiều cách lý giải khác nhau cho sự ‘thiếu, đủ’ này. Nay, Giác Ngộ trân trọng giới thiệu đến bạn đọc một nghiên cứu đối chiếu của tác giả Hạo Nhiên, khẳng định chú Đại bi không hề bị thiếu, đồng thời thiết tha kêu gọi những độc giả quan tâm, chia sẻ thêm về vấn đề này. GN

Chú Đại bi là một trong những bài thần chú dài, xuất hiện và thịnh hành trong giới Phật giáo Trung Quốc vào các thời Đường, Tống. Ở Việt Nam, ta không biết chú Đại bi được Tăng Ni, Phật tử trì tụng từ thời nào, nhưng phổ biến nhất có lẽ là ở thời cận đại, từ khi có kinh Nhật tụng ấn hành bằng chữ Quốc ngữ được phát hành rộng rãi.

Chú Đại bi còn có những tên gọi sau: Thiên thủ thiên nhãn quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni, Quảng đại viên mãn đà-la-ni, Vô ngại đại bi đà-la-ni, Cứu khổ đà-la-ni, Diên thọ đà-la-ni, Diệt ác thú đà-la-ni, Phá ác nghiệp chướng đà-la ni, Mãn nguyện đà-la-ni, Tùy tâm tự tại đà-la-ni, Tốc siêu thập địa đà-la-ni.

Theo ghi chép trong Kinh tạng, bài chú này đã được 99 ức hằng hà sa số chư Phật trong quá khứ tuyên thuyết (đã được chư Phật nhiều bằng số cát trong 99 ức con sông Hằng tuyên thuyết), và Bồ-tát Quán Thế Âm đã thọ trì thần chú này từ nơi Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai. Lúc bấy giờ, Bồ-tát Quán Thế Âm mới ở ngôi Sơ địa, một lần nghe được thần chú này lập tức vượt lên ngôi Bát địa, cho nên Bồ-tát sinh tâm hoan hỷ, phát thệ nguyện phổ biến rộng rãi thần chú này để làm lợi lạc chúng sinh. Lời phát nguyện lập tức ứng nghiệm, ngay trên thân Bồ-tát Quán Thế Âm sinh ra ngàn tay ngàn mắt.

Trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu (ĐTK/ĐCTT), những bản kinh liên quan đến bài chú này có rất nhiều, ở đây xin liệt kê một số kinh tiêu biểu:

Kim cang đỉnh du-già thiên thủ thiên nhãn Quán Tự Tại Bồ-tát tu hành nghi quỹ kinh, 2 quyển, do Bất Không dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1056).

Thiên nhãn thiên tí Quán Thế Âm Bồ-tát đà-la-ni thần chú kinh, 2 quyển, do Trí Thông dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1057).

Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát mụ đà-la-ni thân kinh, 1 quyển, do Bồ-đề-lưu-chí (Bodhiruci) dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1058).

Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni kinh, 1 quyển, do Già-phạm-đạt-ma (Bhagavaddharma) dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1060).

Thiên thủ thiên nhãn Quán Tự Tại Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni chú bản, 1 quyển, do Kim Cang Trí (Vajrabodhi) dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1061).

Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát đại thân chú bản, 1 quyển, cũng do Kim Cang Trí dịch (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1062).

Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát đại bi tâm đà-la-ni, 1 quyển, do Bất Không (Amoghavajra) dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1064).

Thiên quang nhãn Quán Tự Tại Bồ-tát bí mật pháp kinh, 1 quyển, do Tô-phược-la dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1065).

Đại bi tâm đà-la-ni tu hành niệm tụng lược nghi, 1 quyển, cũng do Bất Không dịch (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1066).

Thiên thủ Quán Âm tạo thứ đệ pháp nghi quỹ, 1 quyển, do Thiện Vô Úy (Śubhākarasiṃha) dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1068).

Thiên thủ nhãn đại bi tâm chú hành pháp, do Tứ minh Sa-môn Tri Lễ biên tập vào đời nhà Tống (ĐTK/ĐCTT, tập 46, kinh số 1950).

Đại bi khải thỉnh, Khuyết dịch (ĐTK/ĐCTT, tập 85, kinh số 2843).

Trong những tác phẩm trên, toàn văn bài chú giữa các kinh khác nhau cũng có những sai biệt về số câu và số chữ. Chẳng hạn, bản dịch của Trí Thông (Thiên nhãn thiên tí Quán Thế Âm Bồ-tát đà-la-ni thần chú kinh, quyển Thượng), và bản dịch của Bồ-đề-lưu-chí (Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát mụ đà-la-ni thân kinh) thì toàn văn bài chú Đại bi có 94 câu. Bản dịch của Kim Cang Trí (Thiên thủ thiên nhãn Quán Tự Tại Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni chú bản) thì có 113 câu. Bản dịch của Bất Không (Kim cang đỉnh du-già thiên thủ thiên nhãn Quán Tự Tại Bồ-tát tu hành nghi quỹ kinh, quyển Hạ) thì có 40 câu. Bản dịch của Già-phạm-đạt-ma (Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni kinh) thì có 82 câu…

Điều quan trọng là, tất cả các bài chú Đại bi trong những bản kinh thuộc Đại tạng kinh Đại chính tân tu,đều không có năm chữ ‘na ma bà tát đa’ (那摩婆薩哆). Do đó, nghi thức tụng niệm lưu hành ở Việt Nam từ trước đến nay đều y cứ vào Đại tạng kinh, nên không có năm chữ này là điều tất nhiên! Thêm nữa, từ trước đến nay, cả hai truyền thống Mật giáo và Hiển giáo, đều sử dụng bản dịch của Già-phạm-đạt-ma để trì tụng, mà bản dịch này vốn không có năm âm ‘na ma bà tát đa’; nguyên bản bài chú này phân chia thành 82 câu, nhưng sau này phân chia thành 84 câu.

Gần đây, các nước sử dụng chữ Hán, Mãn, Mông, Tạng đều sử dụng bản dịch của một học giả người Nhật, mà toàn văn bài chú Đại bi có năm âm ‘na ma bà tát đa’ vốn không có trong bản dịch của hai vị đại sư Bất Không và Già-phạm-đạt-ma. Bản chữ Phạn cũng được trưng ra để làm y cứ cho các bản dịch ra chữ Hán, Mãn, Mông, Tạng mới.

Theo chỗ chúng tôi tìm kiếm, thì chỉ có bốn bản kinh nằm trong Tục tạng kinh chữ Vạn, liên quan đến chú Đại bi có năm âm ‘na ma bà tát đa’, đó là:

Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm chú hành pháp, do Tứ minh tôn giả Tri Lễ biên tập nghi quỹ lần đầu, Hoa sơn Luật sư Độc Thể hiệu đính và Gia hòa Sa-môn Tịch Xiêm thêm vào hình tượng, chú Đại bi có 84 câu, trong đó câu thứ 16 có năm  âm ‘na ma bà tát đa’ (Tục tạng kinh chữ Vạn, tập 74, kinh số 1480).

Pháp giới thánh phàm thủy lục thắng hội tu trai nghi quỹ, do Tứ minh Đông Hồ Sa-môn Chí Bát cẩn soạn đời Tống, Sa-môn Châu Hoằng ở chùa Vân Thê, làng Cổ Hàng, hiệu đính vào đời nhà Minh, chú Đại bi có 5 âm ‘na ma bà tát đa’ với lời chú thích ‘Bản tiếng Tây Tạng không có 5 âm này [藏本無此五字] (Tục tạng kinh chữ Vạn, tập 74, kinh số 1497).

Pháp giới thánh phàm thủy lục đạo tràng pháp luân bảo hối, chú Đại bi có 82 câu, trong đó câu 16 có năm âm ‘na ma bà tát đa’, nhưng lại để trong ngoặc với lời chú thích là ‘bản lưu truyền ở thế gian có 5 âm ‘na ma bà tát đa’ [世本有那摩婆薩哆五字] (Tục tạng kinh chữ Vạn, tập 74, kinh số 1499).

Quán Thế Âm trì nghiệm ký, quyển Hạ, do Thích Tuân Thức, tăng nhân của Thiên Thai tông, thời Bắc Tống biên soạn. Tác phẩm này dẫn chú Đại bi do Bất Không dịch, có năm âm ‘na ma bà tát đa’, nhưng như chúng ta thấy, trong ĐTK/ĐCTT, tác phẩm của Bất Không dịch không có năm âm này.

Như vậy, số lượng kinh điển liên quan đến chú Đại bi và có thêm năm âm ‘na ma bà tát đa’ chỉ có trong Tục tạng, và đều do những Tăng nhân nước Trung Quốc biên tập chứ không phải phiên dịch từ bản tiếng Phạn. Cho nên, chúng ta không có bất cứ cơ sở vững chắc nào để khẳng định bài chú Đại bi đầy đủ là phải có năm âm ‘na ma bà tát đa’.

Hạo Nhiên

Thứ hai, 18 Tháng 6 2018 11:33

Thần chú Đại bi, đủ hay thiếu?

LTS: Chú Đại bi là thần chú quen thuộc, rất phổ biến, được Tăng Ni và Phật tử trì tụng hàng ngày, có mặt hầu hết trong các kinh Nhật tụng và nghi thức tụng niệm. Lâu nay, trong giới Phật giáo, có nhiều ý kiến về việc chú Đại bi bị thiếu năm âm ‘na ma bà tát đa’ và đề nghị Giáo hội bổ sung để cho kinh Nhật tụng được hoàn chỉnh. Mặc dù các nhà nghiên cứu Phật học đã có nhiều cách lý giải khác nhau cho sự ‘thiếu, đủ’ này. Nay, Giác Ngộ trân trọng giới thiệu đến bạn đọc một nghiên cứu đối chiếu của tác giả Hạo Nhiên, khẳng định chú Đại bi không hề bị thiếu, đồng thời thiết tha kêu gọi những độc giả quan tâm, chia sẻ thêm về vấn đề này. GN

Chú Đại bi là một trong những bài thần chú dài, xuất hiện và thịnh hành trong giới Phật giáo Trung Quốc vào các thời Đường, Tống. Ở Việt Nam, ta không biết chú Đại bi được Tăng Ni, Phật tử trì tụng từ thời nào, nhưng phổ biến nhất có lẽ là ở thời cận đại, từ khi có kinh Nhật tụng ấn hành bằng chữ Quốc ngữ được phát hành rộng rãi.

Chú Đại bi còn có những tên gọi sau: Thiên thủ thiên nhãn quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni, Quảng đại viên mãn đà-la-ni, Vô ngại đại bi đà-la-ni, Cứu khổ đà-la-ni, Diên thọ đà-la-ni, Diệt ác thú đà-la-ni, Phá ác nghiệp chướng đà-la ni, Mãn nguyện đà-la-ni, Tùy tâm tự tại đà-la-ni, Tốc siêu thập địa đà-la-ni.

Theo ghi chép trong Kinh tạng, bài chú này đã được 99 ức hằng hà sa số chư Phật trong quá khứ tuyên thuyết (đã được chư Phật nhiều bằng số cát trong 99 ức con sông Hằng tuyên thuyết), và Bồ-tát Quán Thế Âm đã thọ trì thần chú này từ nơi Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai. Lúc bấy giờ, Bồ-tát Quán Thế Âm mới ở ngôi Sơ địa, một lần nghe được thần chú này lập tức vượt lên ngôi Bát địa, cho nên Bồ-tát sinh tâm hoan hỷ, phát thệ nguyện phổ biến rộng rãi thần chú này để làm lợi lạc chúng sinh. Lời phát nguyện lập tức ứng nghiệm, ngay trên thân Bồ-tát Quán Thế Âm sinh ra ngàn tay ngàn mắt.

Trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu (ĐTK/ĐCTT), những bản kinh liên quan đến bài chú này có rất nhiều, ở đây xin liệt kê một số kinh tiêu biểu:

Kim cang đỉnh du-già thiên thủ thiên nhãn Quán Tự Tại Bồ-tát tu hành nghi quỹ kinh, 2 quyển, do Bất Không dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1056).

Thiên nhãn thiên tí Quán Thế Âm Bồ-tát đà-la-ni thần chú kinh, 2 quyển, do Trí Thông dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1057).

Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát mụ đà-la-ni thân kinh, 1 quyển, do Bồ-đề-lưu-chí (Bodhiruci) dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1058).

Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni kinh, 1 quyển, do Già-phạm-đạt-ma (Bhagavaddharma) dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1060).

Thiên thủ thiên nhãn Quán Tự Tại Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni chú bản, 1 quyển, do Kim Cang Trí (Vajrabodhi) dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1061).

Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát đại thân chú bản, 1 quyển, cũng do Kim Cang Trí dịch (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1062).

Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát đại bi tâm đà-la-ni, 1 quyển, do Bất Không (Amoghavajra) dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1064).

Thiên quang nhãn Quán Tự Tại Bồ-tát bí mật pháp kinh, 1 quyển, do Tô-phược-la dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1065).

Đại bi tâm đà-la-ni tu hành niệm tụng lược nghi, 1 quyển, cũng do Bất Không dịch (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1066).

Thiên thủ Quán Âm tạo thứ đệ pháp nghi quỹ, 1 quyển, do Thiện Vô Úy (Śubhākarasiṃha) dịch vào đời nhà Đường (ĐTK/ĐCTT, tập 20, kinh số 1068).

Thiên thủ nhãn đại bi tâm chú hành pháp, do Tứ minh Sa-môn Tri Lễ biên tập vào đời nhà Tống (ĐTK/ĐCTT, tập 46, kinh số 1950).

Đại bi khải thỉnh, Khuyết dịch (ĐTK/ĐCTT, tập 85, kinh số 2843).

Trong những tác phẩm trên, toàn văn bài chú giữa các kinh khác nhau cũng có những sai biệt về số câu và số chữ. Chẳng hạn, bản dịch của Trí Thông (Thiên nhãn thiên tí Quán Thế Âm Bồ-tát đà-la-ni thần chú kinh, quyển Thượng), và bản dịch của Bồ-đề-lưu-chí (Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát mụ đà-la-ni thân kinh) thì toàn văn bài chú Đại bi có 94 câu. Bản dịch của Kim Cang Trí (Thiên thủ thiên nhãn Quán Tự Tại Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni chú bản) thì có 113 câu. Bản dịch của Bất Không (Kim cang đỉnh du-già thiên thủ thiên nhãn Quán Tự Tại Bồ-tát tu hành nghi quỹ kinh, quyển Hạ) thì có 40 câu. Bản dịch của Già-phạm-đạt-ma (Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni kinh) thì có 82 câu…

Điều quan trọng là, tất cả các bài chú Đại bi trong những bản kinh thuộc Đại tạng kinh Đại chính tân tu,đều không có năm chữ ‘na ma bà tát đa’ (那摩婆薩哆). Do đó, nghi thức tụng niệm lưu hành ở Việt Nam từ trước đến nay đều y cứ vào Đại tạng kinh, nên không có năm chữ này là điều tất nhiên! Thêm nữa, từ trước đến nay, cả hai truyền thống Mật giáo và Hiển giáo, đều sử dụng bản dịch của Già-phạm-đạt-ma để trì tụng, mà bản dịch này vốn không có năm âm ‘na ma bà tát đa’; nguyên bản bài chú này phân chia thành 82 câu, nhưng sau này phân chia thành 84 câu.

Gần đây, các nước sử dụng chữ Hán, Mãn, Mông, Tạng đều sử dụng bản dịch của một học giả người Nhật, mà toàn văn bài chú Đại bi có năm âm ‘na ma bà tát đa’ vốn không có trong bản dịch của hai vị đại sư Bất Không và Già-phạm-đạt-ma. Bản chữ Phạn cũng được trưng ra để làm y cứ cho các bản dịch ra chữ Hán, Mãn, Mông, Tạng mới.

Theo chỗ chúng tôi tìm kiếm, thì chỉ có bốn bản kinh nằm trong Tục tạng kinh chữ Vạn, liên quan đến chú Đại bi có năm âm ‘na ma bà tát đa’, đó là:

Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm chú hành pháp, do Tứ minh tôn giả Tri Lễ biên tập nghi quỹ lần đầu, Hoa sơn Luật sư Độc Thể hiệu đính và Gia hòa Sa-môn Tịch Xiêm thêm vào hình tượng, chú Đại bi có 84 câu, trong đó câu thứ 16 có năm  âm ‘na ma bà tát đa’ (Tục tạng kinh chữ Vạn, tập 74, kinh số 1480).

Pháp giới thánh phàm thủy lục thắng hội tu trai nghi quỹ, do Tứ minh Đông Hồ Sa-môn Chí Bát cẩn soạn đời Tống, Sa-môn Châu Hoằng ở chùa Vân Thê, làng Cổ Hàng, hiệu đính vào đời nhà Minh, chú Đại bi có 5 âm ‘na ma bà tát đa’ với lời chú thích ‘Bản tiếng Tây Tạng không có 5 âm này [藏本無此五字] (Tục tạng kinh chữ Vạn, tập 74, kinh số 1497).

Pháp giới thánh phàm thủy lục đạo tràng pháp luân bảo hối, chú Đại bi có 82 câu, trong đó câu 16 có năm âm ‘na ma bà tát đa’, nhưng lại để trong ngoặc với lời chú thích là ‘bản lưu truyền ở thế gian có 5 âm ‘na ma bà tát đa’ [世本有那摩婆薩哆五字] (Tục tạng kinh chữ Vạn, tập 74, kinh số 1499).

Quán Thế Âm trì nghiệm ký, quyển Hạ, do Thích Tuân Thức, tăng nhân của Thiên Thai tông, thời Bắc Tống biên soạn. Tác phẩm này dẫn chú Đại bi do Bất Không dịch, có năm âm ‘na ma bà tát đa’, nhưng như chúng ta thấy, trong ĐTK/ĐCTT, tác phẩm của Bất Không dịch không có năm âm này.

Như vậy, số lượng kinh điển liên quan đến chú Đại bi và có thêm năm âm ‘na ma bà tát đa’ chỉ có trong Tục tạng, và đều do những Tăng nhân nước Trung Quốc biên tập chứ không phải phiên dịch từ bản tiếng Phạn. Cho nên, chúng ta không có bất cứ cơ sở vững chắc nào để khẳng định bài chú Đại bi đầy đủ là phải có năm âm ‘na ma bà tát đa’.

Hạo Nhiên

Thứ ba, 29 Tháng 5 2018 21:32

Duy ngã độc tôn

Sự kiện Đản sinh của Đức Phật được nhiều kinh điển ghi lại như một huyền thoại. Các kinh Đại bản duyên (thuộc Trường A-hàm), kinh Đại bản (thuộc Trường bộ) đều ghi tương tự: “Khi Bồ-tát vừa mới hạ sinh, Ngài bước đi bảy bước, dưới mỗi bước chân nở ra một đóa hoa sen, đến bước thứ bảy thì dừng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, Ngài tuyên bố: Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”.

Chỉ phần sau câu tuyên bố của Bồ-tát trong hai kinh trên là có khác. Kinh Đại bản duyên ghi: “Bồ-tát khi sinh do hông phải của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn. Ngài từ hông phải ra, vừa đến đất, không cần người đỡ, liền đi bảy bước, nhìn khắp bốn phương, rồi đưa tay lên nói rằng: Trên trời dưới đất, duy chỉ có Ta là tôn quý. Ta sẽ cứu độ chúng sinh khỏi sinh, già, bệnh, chết” (HT.Thích Tuệ Sỹ dịch).

Còn kinh Đại bản ghi: “Bồ-tát khi sinh ra, Ngài đứng vững trên hai chân, mặt hướng phía Bắc bước đi bảy bước, một lọng trắng che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như con ngưu vương thốt ra lời như sau: Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sinh ở đời này nữa” (HT.Thích Minh Châu dịch).

Nếu căn cứ theo mạch văn câu nói của Phật trong kinh Đại bản thì từ “ta” (ngã) là chỉ Đức Phật. Đức Phật tuyên bố Ngài là bậc tối thượng, tối tôn, cao quý nhất trên đời. Đời sống này là đời sống cuối cùng của Ngài, sau đời sống này Ngài không còn tái sinh trở lại thế gian nữa. Đó tuyệt nhiên không phải là lời nói ngã mạn, tự cao tự đại, mà là lời nói khẳng định sự thật. “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” có nghĩa là trên trời dưới thế chỉ có Ta là bậc tôn quý đáng kính. Chữ “độc tôn” chỉ vị trí tôn kính duy nhất, chỉ một mà không có người thứ hai, điều này Đức Phật cũng đã khẳng định trong nhiều kinh chứ không chỉ trong lời tuyên bố này, xin sẽ nói sau.

Có nhiều người hiểu “Duy ngã độc tôn” là chỉ có chân ngã là tôn quý hay chỉ có đại ngã là tôn quý. Một số người khác thì bảo “Duy ngã độc tôn” là chỉ có ngã chấp là bao trùm cả thế gian từ cõi trời cho đến các cõi khác. Theo tôi thì không nên suy diễn quá nhiều, chỉ cần hiểu sát nghĩa câu nói của Đức Phật thôi, và tôi nghĩ hiểu như thế chẳng phải sai vì có căn cứ trong kinh điển Nguyên thủy.

Đức Phật là một chúng sinh giác ngộ và chứng nhập chân lý, thành tựu đạo quả Vô thượng Bồ-đề mà chưa một chúng sinh nào trong hiền kiếp hiện tại có khả năng làm được điều đó. Ngài là bậc thầy của trời người, là bậc có trí tuệ và đức hạnh đầy đủ, bậc không có người vượt qua, bậc đáng tôn trọng nhất trên thế gian, bậc đáng được cúng dường, là bậc tự tại trong ba cõi thì quả thật chỉ có Ngài ở vị trí độc tôn chứ không còn ai nữa.

Trong kinh Tăng chi b I, Đức Phật đã từng xác định: “Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ-kheo, không có được trong một thế giới có hai vị A-la-hán Chánh đẳng giác (Phật), không trước không sau, xuất hiện một lần. Sự kiện này không xảy ra. Và sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo, trong một thế giới chỉ có một vị A-la-hán Chánh đẳng giác xuất hiện, sự kiện này có xảy ra” (HT.Thích Minh Châu dịch). Như thế có thể nói vị trí của Đức Phật trong hiền kiếp hiện tại ở thế giới Ta-bà này là độc nhất vô nhị.

Cũng trong kinh Tăng chi bộ I, Đức Phật giải thích rõ tại sao Ngài là người vô song, là người độc nhất vô nhị, đây là sự thật chân lý về Phật bảo: “Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tự, không có người ngang hàng, đặt ngang hàng, là bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác, người này khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có người ngang hàng, không có ai đặt ngang hàng, ngang bằng tối thắng, bậc tối thắng giữa các loài hai chân”.

Kinh Trung bộ III, Đức Phật nói rõ nguyên nhân vì sao Ngài là bậc vô song, độc nhất vô nhị: “Không thể có một Tỳ-kheo, này Bà-la-môn, thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh đẳng giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, Thế Tôn là bậc làm khơi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được nói, là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và này, các đệ tử là những vị sống hành đạo và tùy hành, sẽ thành tựu đạo quả”. Vì những điều đó mà Đức Phật là một bậc tối tôn vô thượng.

Đây là một sự thật mà chúng sinh phải thừa nhận, sự khẳng định “Duy ngã độc tôn” của Ngài không phải là lời tự đề cao, tự tôn xưng. Ngài đã tận diệt tất cả phiền não lậu hoặc thì làm gì có lòng kiêu mạn ở đây.

Diệu Thể

 

Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người.

Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời. Của người nào? Của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời.

Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người vi diệu. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người vi diệu.

Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân.

Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất lai, là sự chứng ngộ quả Bất lai, là chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán.

(Kinh Tăng chi bộ I, chương 1, phẩm Một người, phần Như Lai, 
VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.46)

Nguồn: https://giacngo.vn/phathoc/2018/05/29/7E749B/

Đức Pháp chủ GHPGVN - Trưởng lão HT.Thích Phổ Tuệ

Hà Nội, tháng 5 năm 2018, 
Phật lịch 2562

Nam-mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính gửi: Chư tôn túc Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức Tăng Ni, 
Cư sĩ, Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài.
Hàng năm vào những ngày tháng 5 lịch sử là mùa Vesak thiêng liêng, những người Phật tử trên toàn thế giới hân hoan kính mừng ngày Đản sinh của bậc Đạo sư Đại giác ngộ tôn quý, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hơn 26 thế kỷ qua, con đường giác ngộ mà Ngài đã soi sáng cho chúng ta đi đến bến bờ hạnh phúc, an lạc mãi mãi là chân lý thực tiễn phá bỏ sự bất bình đẳng, chiến tranh, xung đột và nghèo đói đem đến hòa bình và sự thịnh vượng cho nhân loại trên khắp hành tinh. Ánh sáng đó chiếu rọi đến đâu là ở đó tràn ngập tình thương yêu và trí tuệ sáng suốt cho sự phát triển bền vững vì lợi ích của số đông và vì hạnh phúc của loài người.
Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt Nam cách đây 1.050 năm về trước khi vua Đinh Tiên Hoàng thành lập nên nước Đại Cồ Việt, nhà nước trung ương tập quyền đầu tiên đã có sự đóng góp quan trọng về tâm tài, trí tuệ của các vị thiền sư Phật giáo Việt Nam từ kiến trúc thượng tầng, đến chăm lo đời sống muôn dân, và bang giao quốc tế đều thấm đượm giáo lý Phật giáo mà tiêu biểu là Quốc sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu. Với tư tưởng “Trong cây vốn có lửa”, mang triết lý sâu sắc của học thuyết Phật tính trong kinh Niết-bàn và giáo nghĩa tất cả các pháp đều là Phật pháp, trong kinh Pháp hoa đã chỉ ra rằng con người ta không thể tìm thấy một thế giới giác ngộ nào khác bên ngoài cuộc đời này. Các vị thiền sư đại trí, đại tài đã ung dung, tự tại, coi sự hoàn thành việc đời như một chứng tích cho sự hoàn thành việc đạo, tích cực tham gia vào việc nước, việc dân và có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Năm nay chúng ta kỷ niệm 1.000 năm ngày viên tịch của Vạn Hạnh thiền sư, vị Quốc sư có công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập nên vương triều Lý lấy tư tưởng triết lý Phật giáo là tư tưởng chủ đạo của quốc gia độc lập tự chủ Đại Việt. Đồng thời, chúng ta cũng chuẩn bị Đại lễ kỷ niệm 710 năm ngày Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết-bàn, vị Sơ tổ khai sáng nền Phật giáo Trúc Lâm với tư tưởng hòa quang đồng trần, đưa đạo vào đời, lấy đời phát triển đạo tiêu biểu của tinh thần nhập thế Phật giáo Việt Nam.
Kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh, ngược dòng lịch sử tự hào về sự đóng góp vĩ đại của các bậc Tổ sư đại trí cho dân tộc, Tăng Ni, Phật tử, tổ chức thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam phải nâng cao tinh thần: “Trí tuệ - Kỷ cương - Hội nhập - Phát triển”, nỗ lực không ngừng làm cho đạo Phật xương minh, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc, tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, góp phần đem lại cuộc sống an lạc, thịnh vượng cho nhân dân, hòa bình cho nhân loại.
Thay mặt Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, kính chúc chư tôn đức Tăng Ni, Cư sĩ, đồng bào Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài mùa Phật đản trọn vẹn niềm hoan hỷ vô biên, an lành trong Chính pháp!
Nam-mô Thường Tinh Tiến Bồ-tát Ma-ha-tát.
ĐỨC PHÁP CHỦ HỘI ĐỒNG CHỨNG MINH
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trưởng lão HT.Thích Phổ Tuệ


Nguồn:https://giacngo.vn/thuvien/2018/05/29/7FE6D1/


Kinh Phổ diệu là một bộ kinh có nội dung đồ sộ, mô tả cuộc đời đức Phật với những thần thông biến hóa, là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của kinh điển Đại thừa, thuộc hệ Phương Đẳng.

Tuy nhiên, mở đầu kinh này mô tả cuộc đời đức Phật với nhiều điểm tương đồng với quan điểm của Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivada); phái này thuộc phái Tiểu thừa.

Kinh Phổ diệu do S. Lefmann xuất bản, ông là người đầu tiên đưa ra bản dịch chương đầu kinh này tại Berlin năm 1875. Học giả vĩ đại người Bengali Bajendralal Mitra đã chuẩn bị một bản dịch tiếng Anh cho bộ sưu tập Bibliotheca Indica gồm ba quyển đã được ra đời. (Calcutta, 1881 đến 1886). Ông ta cũng đã đưa ra một bản chưa hoàn chỉnh. Một bản dịch bằng tiếng Pháp của Foucaux xuất hiện ở Paris trong Annals du Musee Guimet, vol. VI, XIX, (Paris, 1887-1892). Bản dịch tiếng Hoa của kinh này mô tả cuộc đời đức Phật tương đồng với sự mô tả của Nhất thiết hữu bộ.  Tác phẩm Romantic Legend của Beal là một bản dịch rút ngắn từ bản tiếng Hán kinh Abhinish-Kramana Sutra, bản Sanskrit của kinh này không còn, nhưng nó được dịch sang tiếng Hán rất sớm từ năm 587 stl. Bản kinh này lại mô tả lịch sử đức Phật tương đồng với quan điểm của Pháp mật bộ/Đàm-vô-đức (Dharmaguptas).

Tuy nhiên, tư tưởng Đại thừa đã thể hiện ngay tiêu đề “Lalitavistara” (tường thuật về thần thông diệu dụng của đức Phật) của bản kinh này. Như vậy cuộc đời của đức Phật trên trần gian được mô tả như là điều vi diệu của một con người siêu xuất thế gian.  
Trong chương mở đầu, đức Phật xuất hiện như là một thiên thần tối thắng, dù được mở đầu bằng hình thức cổ điển như trong kinh tạng Pāli với dòng chữ “Như vậy tôi nghe, một thời Phật tại thành Xá-vệ, trong tinh xá Kỳ Hoàn, vườn ông Cấp Cô Độc.”

Hình tượng quá độ

Nhưng lúc đó, trong tạng Pāli, đức Phật được giới thiệu với lối mở đầu rập khuôn tương tự với cách diễn đạt và có một số đệ tử chung quanh, hay ít nhất có đầy đủ đại chúng ‘500 tỷ-khưu’ và tức thì pháp hội giảng kinh chính thức bắt đầu. Trong kinh Phổ diệu, cũng như trong kinh Phương đẳng là một quang cảnh long trọng, bao phủ bởi hào quang thiêng liêng. Ngài được bao quanh bởi đại chúng gồm 12.000 vị tỷ-khưu và hơn 32.000 Bồ-tát, ‘tất cả đều là nhất sanh sở hệ Bồ-tát, tất cả đều xuất sinh với sự viên mãn của một Bồ-tát, tất cả đều có được trí huệ của một Bồ-tát, tất cả đều có được các thứ thần thông vi diệu...’ Trong thiền định lúc nửa đêm, từ nhục kế đức Phật phóng ra luồng hào quang xuyên suốt các cõi trời và chấn động cả chư thiên. Lát sau, lập tức phát ra khúc hát tán thán đức Phật tối thắng và ngay sau đó, Iśvara (Thiên chủ) xuất hiện cùng chư thiên đến trước đức Phật, quỳ dưới chân Phật và cầu thỉnh Ngài giảng nói kinh Phương quảng thù thắng có tên là Phổ Diệu để cứu độ và hạnh phúc cho thế gian. Điểm nổi bật của kinh này là những lời tán thán tối tôn của thiên chủ và chư thiên về thần thông vi diệu của đức Phật; chư Phật quá khứ cũng tán dương điều này, đức Thích Tôn tán đồng bằng sự im lặng. Sau những giới thiệu chi tiết nầy, kinh bắt đầu mô tả cuộc đời đức Phật, đây là nội dung chính và xuyên suốt của tác phẩm này. Kinh này mô tả cuộc đời của Ngài tương đồng với nội dung phần II của kinh Nidanakath, thuộc Bản sanh truyện.

Ý niệm đản sinh của đức Phật

Bồ-tát an trụ trên cung trời Đâu-suất  trong một cung điện nguy nga tráng lệ. Bồ-tát được dâng tặng hơn cả trăm danh hiệu cao quý, và hàng chục thiên cung để Ngài cư ngụ. Dưới âm thanh của dàn nhạc trời gồm 8 vạn bốn ngàn chiếc trống cầu thỉnh Ngài thị hiện ở thế gian để khởi đầu ý nguyện cứu độ chúng sinh. Sau thời gian dài tìm hiểu trong số đông những gia đình ưu tú, nghèo hèn, vương tộc đều được xem xét cẩn thận, và sau cùng Bồ-tát quyết định thọ sanh vào gia đình vua Tịnh Phạn, trong bào thai hoàng hậu Maya. Hoàng hậu là người có đủ phẩm tính thân mẫu của một đức Phật. Sắc đẹp hoàn hảo của bà được mô tả đến từng chi tiết, đó là đức hạnh và trinh khiết. Bên cạnh đó, trong tất cả các phụ nữ Ấn Độ, bà là người duy nhất được chọn để đức Phật tương lai nhập thai, vì trong bà có sự hoà hợp sức mạnh của cả vạn con voi. Ý niệm nầy được phát triển với sự hộ trì của chư thiên sau khi Bồ-tát đã quyết định nhập vào thai mẹ bằng hình tướng của một con voi. Chư thiên chuẩn bị không những một trụ xứ như thiên đường cho hoàng hậu Maya cư ngụ trong thời gian mang thai, mà còn kiến trúc một cung điện bằng ngọc quý ngay trong bụng của bà để Bồ-tát có thể không bị vấy bẩn trong suốt 10 tháng trụ thai. Trong bảo điện, Bồ-tát ngồi một cách nhu nhuyến dịu dàng. Nhưng thân Ngài phát ra ánh sáng huy hoàng rực rỡ, và chính luồng ánh sáng đó lan rộng ra hằng dặm từ bào thai của mẹ ngài. Một cơn đau đến với hoàng hậu Maya và được điều phục ngay sau khi bà đưa tay lên đầu. Và bất kỳ khi nào bà nhìn phía bên phải của mình, bà đều thấy Bồ-tát trong bào thai mình như là một người trông thấy khuôn mặt chính mình trong gương. Thế rồi Bồ-tát trong thai mẹ làm cho chư thiên vui thích bằng những bài giảng pháp và Phạm thiên đều tuân theo mọi gợi ý của Ngài.

Ý niệm về việc sinh hạ của Bồ-tát cũng như vậy. Nó được diễn ra cùng với những điều thần diệu và những điềm lành. Trong vườn Lâm-tì-ni, Bồ-tát hạ sanh theo cách như chúng ta đã biết qua vô số mẫu dạng kiến trúc, không giống như một con người bình thường mà một Đấng Tối Thắng (Exalted Being), một Mahapurusha, “The Great Spirit”. Hoa sen đỡ dưới mỗi bước chân của hoàng tử sơ sanh báo cho mọi người biết sự cao quý của Ngài khi bước đi bảy bước về phía sáu hướng chính.

Tội bất tín

Ở đây câu chuyện bị cắt ngang bởi cuộc đối thoại giữa A-nan và đức Phật, trong đó có đề cập đến những người không tin sự nhiệm mầu khi Bồ-tát đản sanh (chương vii, p. 87 – 9). Niềm tin vào đức Phật, được dạy là một thành phần cốt yếu của tín ngưỡng: 
“Đối với tất cả những ai tin vào Như Lai, Như Lai đều đem điều tốt lành đến cho họ. Như những người bạn, họ đến với Như Lai để tìm sự trú ẩn. Và có nhiều người bạn mà Như Lai đã làm như vậy. Và đối với những người bạn ấy Như Lai chỉ nói sự thật, không hư vọng... Để tin, A-nan nên gắng hết sức của ông, đây là điều Như Lai phó thác cho ông.”

Tại sao cuộc đối thoại nầy xuất hiện ngay đây chắc hẳn là không do ngẫu nhiên, nhưng nó dựa trên thực tế chính là có liên quan với truyện kể về ý niệm đản sanh của đức Phật mà kinh Phổ diệu đã tách ra, rất đáng chú ý từ những trường phái Phật giáo khác trong tính quá độ như đối với tính chất huyền diệu mà không quá lâu trong chiều hướng tương lai của câu chuyện. Thực vậy, ở đây thường có sự hài hòa rất cao đối với những mô tả cổ xưa nhất trong tạng Pāli, có nghĩa là, trong Mahavagga của Luật tạng (Vinayapiṭaka), dù có lẽ nó được ghi chú một cách tình cờ rằng các kệ tụng trong kinh Phổ diệu xuất hiện lâu đời hơn phần kệ có trong tạng Pāli (Đối chiếu kinh Phổ diệu trong truyền thống Pāli do Oldenberg thực hiện trong OC, V, 1882, vol. 2, p. 117 to 122 và Windisch trong tác phẩm Mara and Buddha’ and Buddha’s Birth cũng như do Kern trong SBE, vol. 21, p. xi ff.)

Tạng Pāli và Sanskrit 
khi trở lùi lại một nguồn gốc xưa cũ hơn

Hai bản văn ở hai tạng trong mỗi trường hợp đều không tùy thuộc lẫn nhau; nhưng cả hai đều trở lùi lại chung một truyền thống cổ xưa hơn. Mà thậm chí ở đây kinh Phổ diệu có nhiều điều không có trong bản cổ xưa. Hai tình tiết cá biệt là không đáng để ý. Một tình tiết trong những chỗ nầy (chương 8) lại kể rất tỉ mỉ khi Bồ-tát còn nhỏ, Ngài được nuôi dưỡng bởi người mẹ kế, kể về các ngôi đền và các hình tượng chư thiên sùng bái, đặt Ngài lên trên bệ để đảnh lễ ngay dưới chân Ngài như thế nào. Chương khác (chương 10) kể lại lần đầu tiên đức Phật đến trường học.

Đức Phật đến trường học

Với một đoàn tùy tùng gồm 10 ngàn cậu bé với những phô bày rất thiện hảo, với sự tham dự của chư thiên–8000 thiên nữ cùng lúc rải hoa trước Ngài–vị Bồ-tát thiếu niên chào mừng lễ được nhận vào trường học. Thầy hiệu trưởng không chịu đựng nỗi niềm vinh quang của một thiên thần hoá sanh và ông ta liền bất tỉnh ngã lăn xuống đất. Một thiên thần đỡ ông ta dậy và hồi tỉnh cho ông với sự giải thích rằng các vị Bồ-tát đều là những bậc Tối thắng và không cần phải học nữa, nhưng các Ngài đến trường chỉ vì tuỳ thuận tiến trình thế gian. Rồi Bồ-tát làm sửng sốt ông hiệu trưởng với câu hỏi về 64 mẫu tự  mà ông ta sẽ dạy cho Ngài. Và Ngài kể tất cả lần lượt 64 mẫu tự, trong đó gồm cả những nét của tiếng Hán và của Huns–những mẫu tự thậm chí thầy giáo cũng không biết cả tên gọi. Sau cùng, với một vạn cậu bé, Ngài bắt đầu buổi học với những mẫu tự. Cùng với mỗi mẫu tự, Ngài đều nói ra mỗi câu châm ngôn thông tuệ.

Theo Gurupuja Kaumudi (p. 116 f.) của E. Kuhn, hai truyền thuyết về thời thiếu niên của đức Phật nầy có lẽ phù hợp với kinh Ngụy tạo (Gospels Apocrypha), kể chuyện tương tự về thời thiếu niên của chúa Jesus. Chương 12 và 13 còn có những tình tiết không có trong tiểu sử đức Phật. (Winternitz, WZKM 1912, p. 237 f.)
Công hạnh của đức Phật

Về mặt khác, trong tiến trình xa hơn của chuyện kể trong kinh Phổ diệu (chương 14-26), lệch hướng không chỉ chút ít từ truyền thuyết mà chúng ta biết từ các nguồn khác; sự kiện chính trong cuộc đời đức Phật là bốn sự tiếp xúc, mà qua đó, Bồ-tát  học được về sinh, lão, bệnh, tử; sự vượt thoát ra khỏi hoàng cung, cuộc gặp gỡ với vua Tần-bà-sa-la.  Những năm tháng học hỏi của sa-môn Cồ-đàm (Gautama) và việc tu tập khổ hạnh vô ích; cuộc chiến đấu với ma vương; và sự giác ngộ cuối cùng và giảng dạy giáo pháp cho toàn thể chúng sinh ở thế gian theo lời thỉnh cầu của Phạm thiên (Brahma).

Những thành tố của kinh Phổ diệu

Phần nhiều những đoạn thi kệ nầy là các bài tán ca cổ điển diễm lệ vốn có cùng nguồn gốc cổ xưa như kệ tụng trong Kinh Tập (Suttanipata) thuộc tạng Pāli như đã nói ở trên. Những ví dụ như truyền thuyết về đản sanh và tình tiết về đạo sĩ  A-tư-đà (Asita) trong chương VII, lịch sử vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra) trong chương XVI, cuộc đối thoại với ma vương trong chương XVIII. Chúng thuộc về thi ca tôn giáo thế kỷ thứ nhất sau thời đức Phật. Nhưng cũng có vài đoạn văn kinh, giống như bài giảng ở thành Ba-la-nại (Benares)  trong chương thứ XXVI, có thể gọi là mức độ cổ xưa nhất trong truyền thống đạo Phật. Mặt khác, những thành phần nội dung mới lại được tìm thấy không những trong văn xuôi mà còn cả trong phần kệ (gatha), trong đó nhiều đoạn được biên soạn bằng thể thơ mang tính nghệ thuật rất cao. Đó là Vasantatilaka và Shardulavikridita vốn thường là khá hay (xem chú dẫn về vần luật trong ấn bản Lefmann’s VII, p. 227 f, và Dẫn nhập, p. 19 ff).

Dịch sang tiếng Hán và Tây Tạng

Chúng ta không biết được bản được biên soạn sau cùng của kinh Phổ diệu ra đời là khi nào. Trước đó, một khẳng định sai lầm cho rằng tác phẩm này được dịch sang tiếng Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ I TL. Vì vấn đề thực tế là chúng ta không biết gì cả về tiểu sử của đức Phật có tên là Phuyau-king được ấn hành vào khoảng năm 300 stl., điều được viện dẫn là ‘bản dịch thứ hai của Kinh Phổ diệu,’ thực ra là bản dịch kinh văn mà chúng ta đang sử dụng (Winternitz, WZKM 1912, p. 241 f.). Một bản dịch chính xác từ tiếng Sanskrit là thuộc tạng kinh tiếng Tây Tạng, đến thế kỷ thứ 5 mới được ra đời. Bản nầy đã được biên tập và do Foucaux dịch sang tiếng Pháp. Điều chắc chắn có thể xảy ra là có một bản dịch ít nhiều khác với bản kinh Phổ diệu chúng ta đang được biết là nổi tiếng với chừng 850-900 bức tranh được các nghệ sĩ trang trí ở ngôi chùa trứ danh Boro-Budur ở Java. Vì những bản kinh tráng lệ nầy trình bày các quang cảnh trong truyền thuyết về đức Phật theo phong cách như thể các nghệ sĩ đang sáng tạo với bản kinh Phổ diệu trên tay. Và Pleyte đơn giản tóm tắt lại toàn bộ nội dung kinh Phổ diệu như là một giải thích của các bản điêu khắc (The Buddha legend in the sculpture in the temple of Boro-Budur, Amsterdam, 1901. Xem thêm La Museon 1903, p. 124 ff, của Speyer).

Liên hệ với mỹ thuật Phật giáo

Nhưng các nghệ sĩ đã trang hoàng cho các tượng đài đạo Phật mang phong cách Hy Lạp (Greco-Buddhistic) ở miền Bắc Ấn với những hoạt cảnh về cuộc đời đức Phật cũng đã quen thuộc với truyền thuyết đức Phật được kể trong kinh Phổ diệu. Họ đã sáng tạo các tượng đó chắc chắn là không theo kinh văn, mà phù hợp với lối truyền miệng sinh động. Tuy nhiên, sự hài hoà giữa điêu khắc và kinh văn tiếng Sanskrit không hiếm thấy như một đặc điểm mà chúng ta phải giả định là truyền thống văn học lúc đó bị ảnh hưởng bởi mỹ thuật. Mỹ thuật và văn chương thường có ảnh hưởng hỗ tương. 
(Những thẩm quyền có thể được tham khảo ở đây là L’art Greco-bouddhique du Gandhara, part I, 324 f. 666 ff ; Grunwendel Buddhist art in India, p. 94, 04; f-t 134; Senart OC XIV, 1905, p21 ff ; và Bloch ZDMG 62, p. 370 ff.)

Không có hình tượng trong Phật giáo Nguyên thủy

Trong mỹ thuật Phật giáo cổ đại vào thời đại A-dục (Aśoka) nghệ thuật chạm nổi của Bharhut, Sanchi, v.v... không chạm khắc hình tượng đức Phật, mà chỉ có biểu tượng (có nghĩa là bánh xe pháp luân) cho nhân cách của người sáng lập tôn giáo. Hình tượng đức Phật chỉ xuất hiện trong nghệ thuật Gandhara. Có thể nào không có mối liên hệ với điều nầy trong những thế kỷ khi đức Phật trở thành một đối tượng sùng bái (bhakti) và việc tôn thờ đức Phật đã tạo thành điểm trung tâm của tín ngưỡng? Thế nên có sự chứng thực hiện thời về kỷ nguyên của nghệ thuật Gandhara, từ thuở bình sinh (floruit) vốn suy tàn vào thế kỷ thứ II stl., cũng là thời kỳ của kinh điển Đại thừa đề cập đến truyền thuyết đức Phật.  
“Trên nền tảng phong cách xuất phát từ trường hợp đầu tiên của nền nghệ thuật Greco-Roman chỉ có thể là thời kỳ từ thế kỷ đầu cho đến thế kỷ thứ IV.” (Grunwendel Buddhist Art, in India, p. 31). Theo Foucher trong tác phẩm L’art Greco-bouddhique du Gandhara, part 1. p. 40 ff., thời kỳ hưng thịnh của nghệ thuật Gandhara trùng hợp với hậu bán thế kỷ thứ hai stl.

Đánh giá chung về kinh Phổ diệu

Do vậy, có thể nói rằng kinh Phổ diệu hàm chứa nội dung mô tả cuộc đời đức Phật được ghi chép trải qua vài thế kỷ của hai giai đoạn Phật giáo bộ phái và Phật giáo phát triển. Một nguồn rất quan trọng về đạo Phật cổ xưa chính là ở đây, nơi có sự trùng hợp với kinh văn Pāli và các kinh khác bằng tiếng Sanskrit như Đại sự (Mahāvastu). Nhưng từ quan điểm lịch sử văn học, kinh Phổ diệu là một trong những tác phẩm quan trọng nhất trong văn học Phật giáo. Quả thực như vậy, không những cuộc đời đức Phật là thiên anh hùng ca, mà còn tiêu biểu như viên ngọc quý duy nhất. Chính từ những bài tán ca và những tình tiết đã được bảo trì trong từng chi tiết cổ xưa nhất của kinh Phổ diệu, không nói có lẽ chính từ kinh Phổ diệu, mà đại thi hào Phật giáo là ngài Mã Minh (Aśvaghosa) đã sáng tạo nên thiên sử thi tráng lệ là Phật sở hành tán (Buddha-caritakāvya), ca ngợi công hạnh đức Phật.

Thích Nhuận Châu dịch (Pháp Luân)

Thứ tư, 23 Tháng 5 2018 15:53

Ý nghĩa viên mãn của lễ Tam hợp

Căn cứ Nghị quyết Hội nghị Phật giáo thế giới ngày 26-5-1950, gồm 26 quốc gia họp tại Thủ đô Colombo, Tích Lan (Ceylon) hay Sư Tử Đảo (Srilanka), phái đoàn Phật giáo Việt Nam do Thượng tọa Tố Liên đại diện. Hội nghị đã quyết định lấy ngày Đại lễ Phật đản (Vesak) là Rằm tháng Tư âm lịch, bao gồm ý nghĩa Tam hợp lễ kỷ niệm Phật Đản sanh - Thành đạo - Nhập Niết-bàn.

Qua đó, cách nay hơn 25 thế kỷ, vào năm 623 trước Tây lịch, tại vườn Lumbini (Lâm-tỳ-ni), nay là Rumindai xứ Ấn Độ cổ, thuộc vùng Terai nước Népal, Bồ-tát Hộ Minh (Satusetu), hiện thân là Bồ-tát Sĩ Đạt Đa (Sidhattha) con vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Gia (Mahamaya), nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), sau 3 A tăng kỳ kiếp tu hành, theo Phật giáo Nam truyền là 20 A Tăng kỳ, 100 ngàn kiếp, nên Cổ đức nói: "Tăng kỳ quả mãn, bách kiếp tu hành”. Nghĩa là A Tăng kỳ thứ nhất, tu hành 6 pháp Ba-la-mật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ và chế ngự phần hiện hành của phiền não (Kilesa). A Tăng kỳ thứ hai, đoạn trừ từng phần phiền não. A Tăng kỳ thứ ba, đoạn trừ hoàn toàn phiền não, không còn sinh tử luân hồi.

Theo kinh Cariyà Pitaka, Bồ-tát tu tập 10 hạnh Ba-la-mật: Bố thí (Dana), Trì giới (Sìla), Xuất gia (Nekkhamma), Trí tuệ (Panna), Tinh tấn (Viriya), Nhẫn nại (Khanti), Chơn thật (Sacca), Quyết định (Adhithhàna), Tâm từ (Metta) và Tâm xả (Upekkha). Do đó, khi Bồ-tát Hộ Minh từ Cung trời Đâu Suất (Tusita) giáng trần tại vườn Lâm-tỳ-ni, dưới gốc cây Vô Ưu (Asoka), theo kinh Hoa Nghiêm, phần nói về 8 tướng Thành đạo của Bồ-tát, Ngài nói: "Trên cõi Trời, trong cõi Người. Ta là bậc Tôn quý, vì nhận thấy sự bình đẳng với tất cả chúng sanh. Và đoạn trừ phiền não, sinh tử cho chúng sanh và cho chính mình, không còn sinh tử nữa, đây cũng là kiếp cuối cùng”.

Theo kinh Tạng Pali, Ngài nói: "Kiếp này là cuối cùng, duyên sinh không còn nữa. Trên trời và dưới đất, Ta là bậc tôn quý” (Aggohamasmi Lokasmim/ Settho ettho anuttaro/ Ayaca antimà Jàti/ Natthi dàmi Punabbhavo). Vì vậy, dù là sự Đản sinh, nhưng đã viên mãn 3 A Tăng kỳ kiếp tu hành, cũng như đoạn trừ hết sự sinh tử luân hồi cho chính mình và chúng sanh. Thế nên, sự Đản sinh theo Khế kinh gọi là sinh tử diệt - Niết-bàn (Jatimara Nirvana).

Vì sự viên mãn, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi như thế, nên kinh Tăng Nhất nói: "Này chư thiên, có loài hữu tình phi thường, vì hạnh phúc cho số đông, cho chư thiên và loài người. Vì lòng thương tưởng cho đời, nên xuất hiện ở thế gian. Đó là Đức Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác” (Kinh Tăng Chi - phẩm Một Người).

Qua đó cho thấy, sự ra đời của Đức Phật mở đầu cho một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên của nhân bản, tình thương, sự bình đẳng và giác ngộ của chúng sinh, mà Ngài là người biểu thị cao độ và xứng đáng là Đấng Trung tôn. Thế nên, kinh Pháp Hoa nói: "Này chư Thiên, Bà La môn: Ta là Đức Như Lai, Ứng cúng, Chánh Biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô Thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn. Là Đấng Nhất thiết Trí, Nhất thiết kiến, bậc Khai đạo, bậc Tri đạo, bậc Thuyết đạo… ”

Đồng thời, sự tu tập, chứng ngộ của Ngài cũng như các Đức Phật quá khứ, theo kinh Bản Duyên, kinh Đại Bổn cũng là một khuôn mẫu như Đức Phật Tỳ Bà Thi (Vipassi). Qua 49 ngày tư duy dưới cội cây Tất Bát La (Pipala) làng Uruvela nước Ma Kiệt Đà, nay là thành phố Gaya, thủ phủ Patna, bang Bihar, Cộng hòa Ấn Độ, Ngài đã quán pháp 12 nhân duyên theo hai chiều thuận nghịch và đoạn trừ hoàn toàn phiền não vô minh.

Nghĩa là do vô minh làm duyên nên có Hành. Do Hành làm duyên, nên có Thức. Do Thức làm duyên nên có Danh sắc. Do Danh sắc làm duyên nên có Lục nhập. Do Lục nhập làm duyên nên có Súc. Do Súc làm duyên nên có Thọ. Do Thọ làm duyên nên có Ái. Do Ái làm duyên nên có Thủ. Do Thủ làm duyên nên có Hữu. Do Hữu làm duyên nên có Sanh. Do sanh làm duyên nên có Lão tử.

Ngược lại, nếu không có Vô minh làm duyên thì không có Hành, có nghĩa là Vô minh diệt thì Hành diệt, Hành diệt thì Thức diệt, Thức diệt thì Danh sắc diệt, Danh sắc diệt thì Lục nhập diệt, Lục nhập diệt thì Súc diệt, Súc diệt thì Thọ diệt, Thọ diệt nên Ái diệt, do Ái diệt nên Thủ diệt, do Thủ diệt nên Hữu diệt, do Hữu diệt nên Sanh diệt thì Lão tử, ưu bi khổ não diệt. Như kinh Tạp A Hàm nói: "Ai thấy được lý duyên khởi, là thấy được pháp tánh. Ai thấy được pháp tánh là thấy được Như Lai tánh” (Kinh Tương Ưng).

Như Cổ đức nói: "Lang thang mấy độ luân hồi. Vô minh thuở trước xa khơi dặm về. Trông ra bể ái nguồn mê. Một phen giác ngộ trở về nguồn chơn”. Qua đó, kinh Pháp cú đã xác định: Ta đi lang thang trong vòng luân hồi, trải qua bao kiếp sống. Tìm mãi không gặp kẻ làm nhà. Hởi kẻ làm nhà, ngươi không được làm nhà nữa. Kèo, cột, rui mè của ngươi đã bị ta bẻ vụn. Trí Ta đã đạt đến Vô Thượng Bồ-đề, Tâm không còn những ái dục nữa (Niết-bàn) (PC 153 - 154) như nhà thơ Huyền Không đã nói: "Thế giới thuở nào đang tối tăm, rồi đêm Thành đạo sáng hơn Rằm. Tâm tư đọng dưới Bồ đề thọ, Thành đạo đi vào với tháng năm”. Do đó, sự Thành đạo nói khác đi là Sinh tử đã hết (Tập trí), Phạm hạnh đã tròn (Đạo trí), việc làm đã xong (Diệt trí), không còn thọ thân sau (Khổ trí). Do đó, sự Thành đạo của Đức Phật gọi là Phiền não diệt - Niết-bàn (Kilesa Nirvana).

Sau 49 năm thuyết pháp độ sanh, dùng Tâm từ bi, bình đẳng hóa độ chúng sinh, giáo pháp truyền bá khắp thế gian, làm lợi ích vô số chúng sinh hữu duyên, gián tiếp hay trực tiếp đều được lợi ích. Vì thế Ngài đã mãn nguyện, Phật sự đã xong, do đó, theo Kinh Tạng Nam truyền, ngày Rằm tháng giêng âm lịch (Maghajuta), là ngày Đức Phật hứa với Ma Ba Tuần là sau 3 tháng nữa Như Lai sẽ nhập Niết-bàn, tức nhằm ngày Rằm tháng tư âm lịch.

Tuy nhiên, Tôn giả A Nan vì không hiểu được ý nầy, nên đã xin Đức Phật lưu lại thế gian lâu nữa, để làm lợi ích chúng sanh và đệ tử xuất gia chúng con không cảm thấy bơ vơ như mất mẹ. Đức Phật trả lời qua kinh Niết bàn như sau: "Này A Nan, còn chờ đợi Như Lai gì nữa. Những gì cần làm Như Lai đã làm xong, những gì đáng độ Như Lai đã độ xong, giáo pháp Như Lai đã quảng bá khắp nơi, cõi người, cõi trời. Đệ tử Như Lai đã đầy đủ 8 chúng. Vậy còn mong chờ gì nữa mà không nhập Niết-bàn” (Kinh Du Hành). Thế nên Kinh Du Hành nói: "Hoa Sa la nở rộ. Các màu chói sáng nhau. Nơi sinh quán thuở xưa. Như Lai vào Niết-bàn”. Vì vậy, nhập Niết-bàn của Phật gọi là Ngũ Uẩn diệt - Niết-bàn (Panca Khanddha – Nirvana).

Song, Đức Phật còn hay mất, qua kinh Biển Cả trong Trung A Hàm Đức Phật trả lời cho vị Bà La Môn Sinh Văn như sau: "Ví như bể cả, có những lượn sóng nổi lên, sau khi sóng không còn, sóng trở về nước biển. Như Lai cũng thế”. Do đó, nói Như Lai còn cũng không đúng, mà nói Như Lai không còn cũng không đúng, vì thế phải tùy duyên để nói theo lý duyên sinh duyên khởi. Nghĩa là những lượn sóng ví dụ cho Ứng Hóa thân Phật hiện ra ở thế giới Ta bà. Những lượn sóng không còn dụ cho Phật nhập Niết bàn. Nước biển dụ cho Pháp giới Pháp thân. Những lượn sóng trở về với nước biển cũng như Ứng Hóa thân Phật sau khi nhập diệt Phật trở về với Pháp thân và sẽ tùy duyên ứng hiện, lúc có, lúc không, chớ không phải mất hẳn cũng không phải còn mãi về mặt thị hiện.

Thế nên, Kinh Hoa Nghiêm nói: "Pháp thân hiện hữu khắp mười phương. Thường xuyên hiển hiện trước chúng sanh. Không nơi nào là không có. Nhưng thường an trú Bồ đề Đạo tràng” (Pháp thân sung mãn ư thập phương. Phổ hiện nhất thiết chúng sanh tiền. Tùy duyên phó cảm mỵ bất châu, nhi thường xử thử Bồ đề tòa). Theo Kinh Udana Sutra nói: "Trăm sông hướng về biển cả, nhưng không vì thế mà mực nước dâng lên quá cao hay xuống quá thấp. Tương tợ như thế, không vì lẽ có nhiều bậc Thinh văn, Phật độc giác và Phật toàn giác nhập Vô dư Niết bàn, mà Niết bàn đó quá đông đúc hay quá thưa thớt”.

Tóm lại, sự Đản sanh, Thành đạo và nhập Niết-bàn của Phật, đều mang hai ý nghĩa viên mãn là Nhân quả viên mãn và Diệt độ viên mãn, do dù là Đản sinh nhưng đã viên mãn nhân quả tu hành trong 3 A Tăng kỳ kiếp, đoạn trừ sinh tử không còn tái sinh, nên gọi là Sinh tử diệt - Niết bàn. Thành tựu đạo quả là sự viên mãn về quả vị đầy đủ 10 hiệu, Tam minh, Tứ trí, Ngũ nhãn, Lục thông, Thập lực, Giải thoát thanh tịnh, giác ngộ hoàn toàn, nên gọi là nhân quả tu chứng viên mãn và đoạn trừ hoàn toàn phiền não vô minh, nên gọi phiền não diệt – Niết bàn.

Cho đến khi nhập Niết-bàn cũng là một sự viên mãn nhân quả Phật sự và đoạn trừ hoàn toàn sinh thân và sinh y, nên gọi là Ngũ uẩn diệt – Niết bàn. Như vậy, về mặt Pháp thân, Đức Phật vẫn còn ở với chúng ta, ở trong ta và khắp mọi nơi như là không khí, từ trường hiện hữu khắp cả hư không 10 phương thế giới. Nên Cổ đức dạy: "Con Niệm Phật để lòng nhớ mãi. Hình bóng Ngài cứu khổ chúng sanh. Nguyện theo Ngài trên bước đường lành. Con Niệm Phật để rồi thành Phật”

HT.Thích Thiện Nhơn

(nguồn:https://giacngo.vn/phatdan2018/phatdankhapnoi/2018/05/23/7FF498/)

«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»
Trang 1 trong tổng số 11

Ảnh Đẹp

2 1.jpg
  • MP3 Nghe Nhiều

  • Tin Mới

  • Tin Đọc Nhiều

Suy Niệm Lời Phật Dạy

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Lịch và Đồng hồ

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player