Chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội TP, quận huyện tham gia khóa tuSáng nay, 15-8, ngày thứ năm trong khóa tu, chư tôn đức Tăng lãnh đạo BTS Phật giáo TP.HCM, ban trực thuộc và 24 BTS Phật giáo quận, huyện tham gia khóa cấm túc 10 ngày tại Việt Nam Quốc Tự (số 242-244, đường 3/2, quận 10, TP.HCM) thảo luận các vấn đề Tăng sự.

HT.Thích Trí Quảng, Phó Pháp chủ HĐCM, Trưởng BTS GHPGVN TP.HCM chứng minh, điều phối buổi pháp đàm; HT.Thích Minh Thông, Phó Trưởng ban Tăng sự T.Ư, Trưởng ban Tăng sự TP trình bày về thọ giới, truyền giới, Đức Phật chế định về trách nhiệm của bổn sư với đệ tử.

HT.Thích Minh Thông mở đầu phần này với quy định được Đức Phật chế định, trách nhiệm của một Tỳ-kheo trong nuôi dạy chúng. Theo đó, Tỳ-kheo có 10 tuổi hạ (hạ lạp) trở lên mới được nhận đệ tử; Tỳ-kheo-ni từ 12 tuổi hạ trở lên mới được nhận đệ tử. Mỗi năm, vị bổn sư chỉ nhận 1 đệ tử để nuôi dạy đến khi đệ tử thọ Tỳ-kheo mới được nhận đệ tử mới.

ANH BTS (3).JPG
HT.Thích Minh Thông nói về các vấn đề Tăng sự

ANH BTS (9).JPG
Chư tôn đức tham gia buổi pháp đàm về Tăng sự

Trong Luật tạng, vấn đề thọ giới rất quan trọng, giới tử đăng đàn thọ giới phải đắc giới và giới thể phải thanh tịnh. Trường hợp xả giới và những điều kiện liên hệ cũng được đề cập chi tiết. Để tránh tình trạng phạm giới do thiếu hiểu biết đúng, các giới tử sau khi thọ giới cần phải được học để nhận thức những điều căn bản nhất, giới nào phạm thì được sám hối, giới nào nếu phạm vào sẽ mất tư cách người xuất gia và cách thức sám hối như thế nào là đúng pháp...

ANH BTS (11).JPG
HT.Thích Thiện Đức tham gia thảo luận tại buổi pháp đàm

ANH BTS (13).JPG
HT.Thích Minh Cảnh phát biểu

Không khí buổi pháp đàm sáng nay khá sôi nổi khi đề tài của buổi pháp đàm thiết thực trong bối cảnh hiện nay. Chính vì thế, chư tôn đức trao đổi khá nhiều. Trong phần thảo luận, một vị giáo phẩm dẫn lại lời của một vị Tăng ở miền Bắc cho rằng, Phật giáo ở miền Nam chỉ có giới lạp mà không có hạ lạp. Rất nhiều ý kiến tham gia thảo luận về vấn đề này, nhìn từ nhiều góc độ lịch sử, hệ phái cũng như các quan niệm tế nhị khác.

ANH BTS (16).JPG
TT.Thích Nhật Từ thảo luận về "nhận đệ tử"

ANH BTS (7).JPG
Chư tôn đức cẩn thận ghi chép những kiến thức về Giới luật

Về vấn đề bổn sư có nên nhận nhiều đệ tử, có ý kiến Phật giáo Nam truyền không quy định nhận bao nhiêu đệ tử xuất gia, cho nên số lượng Tăng sĩ trong Tăng đoàn phát triển rất nhanh. Cách mà chúng ta vận dụng có thể sẽ bị “thiểu số” hóa Tăng đoàn. Nếu hạn chế cho trụ trì nhận đệ tử có thể sẽ bị hạn chế, làm hẹp lại cơ hội của Phật tử có tâm nguyện được xuất gia; theo đó, đề nghị chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội cho một số vị trụ trì “có duyên độ đệ tử” mỗi năm độ 10, 20 người... miễn sao vị bổn sư nuôi dạy đệ tử tốt, cho đi học đàng hoàng…

ANH BTS (17).JPG
TT.Thích Lệ Thọ tham gia thảo luận

ANH BTS (18).JPG
TT.Thích Trí Chơn thảo luận về bổn sư có nên nhận nhiều đệ tử

Ngược lại với ý kiến trên, một vị giáo phẩm khác cho rằng, quan niệm nhận nhiều đệ tử như trên là không ổn lắm. Bởi, như vậy giữa thầy bổn sư và đệ tử sẽ không có sự tương tác, điều kiện chăm sóc, dạy dỗ với số lượng đông sẽ không tốt, không có “chất”. Đẩy mạnh việc nhận đệ tử hiện nay cần phải nương vào điều kiện giới luật cho phép.

ANH BTS (15).JPG
HT.Thích Trí Quảng điều phối chương trình thảo luận

ANH BTS (5).JPG
HT.Thích Minh Thông

ANH BTS (6).JPG

ANH BTS (8).JPG
Sáng nay, pháp đàm về Tăng sự khá sôi nổi với nhiều ý kiến đóng góp

Các ý kiến khác của chư tôn đức tại buổi pháp đàm đồng tình với việc Giáo hội ra quy định, mỗi năm một vị trụ trì chỉ nên nhận 3 đệ tử. Có như vậy, thầy bổn sư và đệ tử mới có mối quan hệ gắn kết thân tình, sự tương tác qua thân giáo, đệ tử nhận được sự giáo dưỡng tốt, giữ gìn giới luật, được tu học nghiêm túc, ít có mâu thuẫn thầy - trò, mâu thuẫn trong nội tự.

Vấn đề này, chư tôn đức sẽ còn tiếp tục thảo luận vào sáng ngày mai, 16-8.

H.Diệu - ẢnhBảo Toàn

http://giacngo.vn/thoisu/tintuc/2017/08/15/5BC288/

Mũ Tì-lư của vị Gia trì sư được đội lên trong trai   đàn chẩn tế cô hồn

Nhân quả luận Phật giáo nêu lên con người sau khi chết đi nếu chưa giác ngộ sẽ bị trôi lăn theo nghiệp thức, đoạ lạc ba nẽo ác, nhân gian quy kết 12 loại cô hồn (còn gọi thập loại cô hồn). Tín ngưỡng Phật giáo nhân gian quan niệm ngài Đại sĩ Tiêu Diện do Bồ-tát Quán-thế-âm hóa thân thống nhiếp cô hồn. Trong đó, ngôi vị cao nhất trong xã hội là vua quan, cho đến hèn kém nhất giữa đời thường là kẻ ăn mày đói rách, cho đến kẻ đánh bắt cá, chặt củi, cày cấy, chăn dắt gia súc (ngư, tiều, canh, mục). Văn thỉnh thập nhị loại cô hồn được mô tả logic và trích truyền ròng rặc về sự tích, bối cảnh của người đất Hán.

Đại sĩ Tiêu Diện (còn gọi Diệm khẩu quỷ vương) do Bồ-tát Quán-thế-âm hóa thân hung tợn

Trước hết thử hỏi: ai là tác giả soạn viết văn thỉnh?

Sử ghi nhà thơ nổi tiếng thời Bắc Tống Tô Đông Pha có viết bản “Diệm khẩu triệu thỉnh văn” chứa đựng tâm tư não nề, miêu tả kiếp người mong manh như “hạt sương rơi đầu cành”, những cô hồn nương nhờ uy thần của Tam bảo mới được siêu thoát. Vậy Tô Đông Pha là tác giả ư?

Xưa nay văn chương thi kệ Phật giáo được lưu truyền đều do từ ngòi bút sắc bén của các tăng nhân hay văn nhân có học vấn uyên bác. Văn hiến học Phật điển cũng phải trải qua việc bổ chính, mới trở nên nguồn chảy lâu sâu. Văn thỉnh cũng là một tuyệt tác được lưu thông và ứng dụng cho các nghi thức (đại khoa, trung khoa, lược khoa, thí thực cô hồn) ở miền Bắc, Trung, Nam trong nước; nghiễm nhiên trở thành thiên văn chương bất hủ sống mãi trong mọi thời đại. Tô Đông Pha kết duyên sâu với Phật pháp, kết bạn với hàng tăng lữ đương thời, cho nên văn từ trong văn thơ của ông tuôn chảy thấm đẫm Phật lý. Nhất là giai thoại giữa ông và Thiền sư Phật Ấn cũng được lưu truyền rộng khắp trong cửa thiền. Có người nêu: “Văn thỉnh thập loại cô hồn không phải của ông, bởi vì trong văn thỉnh này, toàn bộ được sử dụng Tứ lục cú 四六句”. Đây là điều không mấy rõ ràng. Tứ lục cú là thể văn ngôn đặc thù thời Trung Hoa cổ đại. Nhưng trong văn thỉnh “Phần biền văn lấy hai câu là chính, chú trọng đối 2 thanh luật, nhiều thì 4 chữ, giữa thành câu 6 chữ”. Rõ ràng thấy được người viết văn thỉnh đã khéo léo dùng phương pháp cổ đại là kết hợp luật văn biền thể, rồi phối hợp với thanh luật để lồng ghép những tuồng tích xa xưa nhằm tạo thêm sức thu hút cho người đọc và cảm thấy dâng trào cảm xúc. Ông là một trong tám nhà thơ lớn (“Đường Tống bát đại gia chi nhất” 唐宋八大家之一) đề xướng việc thay mới cổ văn; lẻ nào lại dùng dạng thanh luật này? Còn phần nhiều văn thỉnh lại dùng văn biền thể. Vả lại, như đoạn “Ngũ quốc oán thanh vị đoạn” (thuộc câu thỉnh 1) thì ‘ngũ quốc’ (五国) là 5 bộ lạc dân tộc thiểu số: Việt Lý Cát, Áo Lý Mễ, Bội A Lý, Bồn Nô Lý, Việt Lý Phùng trong nước Liêu. 5 bộ lạc này nằm ven sông Tùng Hoa, thuộc dòng chảy Hắc Long giang. Sông này là sông lớn nhất trong huyện Y Lan. Sử viết Ngũ quốc còn gọi là Ngũ quốc bộ (五国部). Nước Kim thành lập vào năm 1115; hai năm sau, vào niên hiệu Tĩnh Khang thời Bắc Tống, quân Kim công phá phủ Khai Phong, Tống Khâm tông bị bắt nhốt ở Ngũ quốc, hơn 3000 người trong hoàng cung bị bắt về nước Kim. Triều Bắc Tống bị diệt vong, đây là một “Nổi nhục Tĩnh Khang” tủi nhục nhất trong lịch sử Trung Hoa. Trong Mãn giang hồng (满江红) ghi lại tâm trạng uất hận của anh hùng kì tài Nhạc Phi, Nhạc Phi thốt lời: “Tĩnh Khang nhục, tuyết chưa tan, vua thần hận, cớ sao diệt!”. Triều Tống diệt vong vào niên hiệu Tĩnh Khang thì Đông Pha đã qua đời lâu. Ông sinh vào niên hiệu Cảnh Hựu thứ 4 (1037) thời Tống Nhân tông, qua đời vào đầu niên hiệu Tĩnh Quốc (1101) thời Tống Vi tông. Lúc này Tống Vi tông Triệu Cát đang làm vua, đến thời Tống Khâm tông mất nước; hai vua này bị bắt thì ông đã qua đời 25 năm trước đó. Ông lớn hơn Vi tông 45 tuổi, lớn hơn Khâm tông 63 tuổi. Suy ra, người đời sau viết sử sai nhầm về việc này và xác định văn thỉnh không phải do Tô Đông Pha trứ tác.

Đoạn “…Tây lai chiến hạm, thiên niên vương khí nga thâu” (câu thỉnh 1) được giới phân tích nêu liên hệ đến 2 thuyết:

Thuyết 1: ‘Cửu ngũ chí tôn’ (九五致尊). Con số cửu ngũ (9, 5) bày rõ ngôi cao, “Hai số này mang ý nghĩa tượng trưng cho chí cao vô thượng; cũng nhằm chỉ cho vua. Và chỉ cho người có tài năng mới dùng số biểu trưng này”. Theo thuyết toán số học cổ đại thì hai số này được chia ra âm số và dương số. Đơn số là dương, song số là âm. Trong dương số thì số 9 (cửu 九) là số cao nhất, còn số 5 (ngũ 五) là số ở chính giữa. Do đó thời phong kiến xem hai số này tượng trưng cho quyền lực vua chúa, từ đó mới có quan niệm ‘Cửu ngũ chi tôn’ cao nhất. Theo Kinh dịch thì quẻ đầu của 64 quẻ là quẻ càn. Càn (乾) là trời, trời cao tột hay chỉ cho vua chúa. Trong 6 dương số thì số đầu là 9, cũng là ngôi cao nhất. Trong 6 vị thì cao nhất là quẻ càn, cũng chỉ cho đoạn cuối cũng bị tàn lụi theo lẽ biến dịch. Luận điển Đại thừa như Du-già sư địa luận của Luận sư Vô Trước hay Thành Duy thức luận thuật ký của Đại sư Khuy Cơ cũng hay nói đến các pháp biến lưu vô thường.

Thuyết 2: chỉ cho đại tướng kì văn võ song toàn Vương Tuấn (王濬; 206~286) sống vào đầu thời kì Tây Tấn. Sử Tam quốc ghi, vào niên hiệu Hàm Ninh thứ 5 (279) thời Tấn Võ đế, Vương Tuấn dẫn quân chiếm lấy Vũ Xương, rồi thống nhiếp Kiến Nghiệp (nay là Nam Kinh). Tư Mã Viêm lập triều Tấn và tham vọng muốn thống nhất đất nước, bèn sắc lệnh Vương Tuấn đóng quân ở Tứ Xuyên để huấn luyện thuỷ quân và nỗ lực đóng tàu bè để chuẩn bị dẫn quân từ Trường Giang đánh nước Ngô. Tư Mã Viêm ra lệnh dẫn binh đánh sáu đường, Vương Tuấn thống soái 7 vạn thuỷ quân, dẫn đường thứ nhất rồi tiến đánh Ích Châu (Thành Đô). Vua Tôn Hạo (cháu đích tôn của vua Đông Ngô là Tôn Quyền) hoang dâm vô độ, giết hại trung thần, không đủ sức chống cự nên dăng cờ đầu hàng triều Tấn. Nước Thục diệt vong vào năm 263, nước Ngô diệt vong vào năm 280; cuối cùng giang sơn Hoa Hạ thống nhất một mối.

Luỵ triều đế chúa” là chỉ cho Tấn Hoàn Vương hỗn chiến với nước Ngô. Trải bao thời thay ngôi đổi chủ, cha con tàn hại nhau, anh em hãm hại nhau cũng vì ngôi vị này. Tào Phi rắp tâm muốn giết em trai Tào Thực nên ra lệnh em trai đi bảy bước phải làm xong bài thơ. Trong Bảy bước thành thơ (Thất bộ thành thi 七步成詩) của Tào Thực ghi: “Nấu đậu chụm vỏ đậu, đậu tại trong nồi khóc, vốn một gốc sinh ra, cớ sao đốt gấp vậy.” Thái tử A-xà-thế hãm hại vua cha Tần-bà-sa-la (“Tần-bà-sa-la là vị vua hộ pháp đắc lực nhất kể từ sau khi Đức Phật thiết lập Tăng đoàn”), đã “Giam hãm vua cha trong lao ngục u tối, bị gọt tận móng chân, đói khát mà chết”;còn đối xử tàn các với bà Vi-đề-hi (phu nhân của Tần-bà-sa-la). Nhưng sau khi được Đức Phật điểm hóa,  A-xà-thế “Trở thành vị hộ pháp của giáo đoàn Phật giáo”.

Thiên niên vương khí nga thâu” là quân Kim bắt Tống Khâm tông triều Bắc Tống và bị đày ra sa mạc. “Ngũ quốc oán thân” là từ đó dần dà trở thành Ngũ quốc thành.

Bắc khứ loan dư” làcái chuông lục lạc đeo trên yên ngựa chở vua đi. Từ điển Thiều Chửu giải thích chữ ‘loan’ (銮) là cái chuông nhỏ, chữ ‘dư’ (舆) là xe chở người và vật từ nơi này đến nơi khác. Nhân gian hay nói đến động từ kép ‘dư luận’ (舆論), là chuyên chở những lời đúng sai của từ người này qua người khác. Nhằm chặt đứt hàng rào ngôn ngữ, lời lẽ nhà thiền có câu “Lời đúng sai như hoa rụng buổi sáng” (Thị phi ngôn trục triêu hoa lạc 是非言逐朝花洛.)

Đỗ quyên khiếu lạc”, theo truyền thuyết thì loài chim đỗ quyên rất lạ lùng. Tương truyền, thời xa xưa Thục có người tên Đỗ Vũ giỏi về cày cấy, sau khi lên làm vua lấy tên là Vọng đế, chết đi hoá làm chim đỗ quyên. Từ đó, khái niệm đỗ quyên bắt nguồn từ đây.Đầu lưỡi chim màu đỏ, cuối mùa xuân và mùa hạ thì chim hót tiếng nghe ai oán. Truyền thuyết này được bắt nguồn từ thời Xuân thu Chiến quốc. Trong Định phong ba-Tái Dụng Vận Hoà Triệu Tấn Thần Phu văn của nhà viết ‘từ’ Tân Khí Tật thời kì Nam Tống ghi: “Hoa rơi cỏ dại chẳng ngày xuân. Nghe đỗ quyên hót chợt nhớ xưa.”

Tiền vương hậu bá” chỉ cho ba vị vua: Nghiêu, Thuấn, Vũ; dịch theo thể văn thì trước vua sau quan hay trên vua dưới quan.

Trúc đàn bái trướng” chỉ cho ba vị đại tướng: Hàn Tín, Tiêu Hà, Hà Kỳ. Trước thì Hán Cao Tổ chưa trọng dụng Hàn Tín, sau lại phong Hàn Tín làm đại tướng. Trong Hán thư-Cao đế kí thượng ghi: “Vua Hán giữ giới chay tịnh, lập đàn tràng rồi phong Tín (Hàn Tín) làm đại tướng quân và hỏi về kế sách.”

Kiến tiết phong hầu” là nói về nhà quân sự Ban Siêu thời kì Đông Hán. Ban Siêu lúc nhỏ nghèo khó, nhưng lập chí siêng học tập, rồi sau được phong hầu.

Lực di kim đỉnh thiên cân” chỉ cho vua Hạ Vũ dốc sức dựng nước; và quan đại phu Ngũ Tử Tư thời Xuân Thu đến đầu hàng nước Ngô.

Thân tác trường thành vạn lý” chỉ cho vào thời kì Lưu Tống có đại tướng văn võ song toàn Đàn Đạo Tế.

Sương hàn báo trướng” là những võ tướng lập doanh trại nơi hoang vắng và cắm lá cờ lên, dựng cao ngọn cờ bay phất phới để tỏ ra uy quyền quân đội.

Đồ cần hạn mã chi lao; phong tức lang yên”, ngày xưa chế ra mười làng lập nên một doanh trại hay thường xuyên nhen nhúm khói bếp. Khi trong triều đình có chuyện xảy ra thì nhen khói bốc mịt mù để những nước khác biết mà cứu giúp. Đến buổi chiều thì đốt lửa cho khói bay lên báo hiệu cho quân lính lui lui về doanh trại.

Ngũ lăng tài tuấn” chỉ cho 5 vị vua ở 5 nơi. Hán Cao tổ ở Trường Lăng, Hán Huệ đế ở An Lăng, Hán Văn đế ở Bá Lăng (nay là tỉnh Thiểm Tây), Hán Cảnh đế ở Dương Lăng, Hán Võ đế ở  Mậu Lăng.

Bồng lai chi đảo” là nói đến đảo Bồng Lai nằm trên biển Hoa Đông. Đảo này trong lành yên tịnh, bặt dấu chim bay, vắng vết chân người, là nơi thần tiên dạo chơi và cư ngụ. Cuốn tiểu thuyết Thần thoại truyện của nhà luyện đan thuật Cát Hồng (người đời gọi là Cát tiên ông 葛仙翁) sống vào thời Đông Tấn có nói về đảo Bồng Lai; “thiên Vương Viễn” của Thần thoại truyện nói đến chuyện Vương Viễn sống vào triều Hoàn đế thời Đông Hán giao du với tiên nữ ở dưới biển. Lần nọ, Vương Viễn đến nhà của Thái Kinh, khi bước đến gần nhà bỗng thấy một tiên nữ xinh đẹp đứng trước mặt. Sau đó tiên nữ lại đến nhà Thái Kinh (người do Vương Viễn biến ra) ở biển đông, nói quen biết và muốn giao du với Thái Kinh, rồi tự mình nói đã 3 lần (có thuyết nói 5 lần) thấy bãi biển biến thành nương dâu. Trước đó không lâu, tiên nữ còn đến đảo tiên Bồng Lai (蓬莱仙岛) thấy nước biển sóng nhấp nhô rồi dần khô cạn, mặt biển trở nên mặt đất phẳng lì. Thái Kinh nghe, cười và trả lời: “Bậc thánh đều nói biển cả sẽ bị khô cạn thành đất liền”. Thái Kinh vừa nói vừa đưa tay chỉ và nhìn đăm đăm tiên nữ, nghĩ rằng việc chỉ tay này như móng chim lướt nhẹ, nghĩ rằng chỉ có cách nói lên sự thật mới mang đến tâm thái yên ổn cho tiên nữ. Nào ngờ cách làm này lại bị tiên nữ phản ứng và rất tức giận, lập tức đập đầu xuống đất mà chết.Từ đó nhân gian hay nói câu “Bãi biển biến thành nương dâu” (Thương hải biến vi tang điền). Trong bài tán “Nhất điện mộng hoàng lương” dành cho lễ cúng linh cũng có câu “Nhất triêu thường hải biến, như diệp tợ ngân sương”; nhằm nói đến muôn vật biến dịch như sương đọng trên lá.

Không đàm bí mật chân thuyên” là nói về từ vô pháp rồi khế nhập thực tướng các pháp, hay nói đến tính không,vô ngã.

Bạch hổ lê nô” chỉ cho con trâu màu đen; cũng chỉ “Con bò trắng và nô lệ đen; chỉ chuông mỏ của nhà chùa”.

Hoàng Quan dã khách” là nói đến nhà chính trị triều Đường học rộng tài cao Lý Thuần Phong, hiệu là Hoàng Quan.

Vũ phục tiên lưu” nói đến thời Đường Thái tông có tiên nhân Đàm Tử Tiêu được quyền ra vào tự do trong hoàng cung, được vương triều sắc hiệu là Kim Môn Vũ Khách.

Đào nguyên động” nằm trên núi Chung Nam. “Lý tu chân, lãng uyển châu tiền dưỡng tánh”; ‘Lãng uyển châu’ nằm trên bán đảo Bồng Lai, là nơi để tu chân dưỡng tánh của các đạo sĩ trong Đạo giáo.

Tam hoa’ là tinh thần. ‘Cửu luyện’ là tu luyện học về thất phản cửu hoàn trong Đạo giáo. Là phương pháp kết hợp giữa người, trời, đất (thiên, địa nhân.)

Cát hung chỉ tại phiếm thời; chương ngoã vị phân” chỉ cho ở thị trấn Giang Tân tỉnh Tứ Xuyên có ao Thiên Tuyền (天泉池, đến mùa xuân thì người trong làng đến đây hóng mát. Tương truyền, phụ nữ hay đến ao này mò gạch đá để cầu con, nếu mò được đá sẽ sinh con trai, mò được gạch sẽ sinh con gái.

Nguyệt khuyết hoa tàn, trường đoạn mã ngôi chi dịch” nói đến chuyện Dương Quý Phi là phi tần của Đường Huyền tông nhưng lại vụng trộm tư tình với phản tướng An Lộc Sơn. Sau đó bà bị quân lính bắt và xử chết lúc 38 tuổi.

Trong đó, điều khiến cho mọi người nghi ngờ, thắc mắc là loại cô hồn thứ năm-“Xuất trần thượng sĩ, phi tích cao tăng”. Người tu hành tức là thuộc “Dòng truy y Thích tử” của Phật giáo. Bậc xuất trần thượng sĩ sau khi “hạnh mãn quả viên” xả bỏ báo thân, viên tịch được gọi  là giác linh. Đã giác linh, sao còn đoạ? Công đức của bậc xuất trần cao tột, “Một vị xuất gia, khiến cho chín đời cha mẹ sinh lên cõi trời”. Nhưng đứng từ góc độ khác, nếu người xuất gia không giử tịnh giới, tâm tính bỏn xẻn, cho đến không hiểu rành mạch giới pháp của Đức Phật chế định và giử giới không trọn vẹn thì vẫn bị đoạ đường ác như thường. Kinh Lương Hoàng Sám nói nhiều về điều này.

Truy y (缁衣) còn gọi là hắc y, cũng thay cho người xuất gia. Hắc nhiễm y là ca-sa màu đen hay màu nâu sòng. Văn bia Hồ Ẩn Phương Viên Tẩu Xá-lợi minh (văn bia viết về hành trạng quái gỡ của Tế Điên Hòa thượng. Tế Điên còn gọi là Hồ Ần, Phương Viên Tẩu) của Thiền sư Cư Giản thời Bắc Tống có ghi: ‘Tấn Tống danh truy’ (晋宋名缁), thì chữ ‘truy’ là màu nâu. Đắp y phục màu nâu nhằm phân định tăng lữ. Bộ sử tịch Phật giáo Trung Hoa cổ đại nổi tiếng Lạc dương Già-lam kí, phần “Thành nội Hồ thống tự” của Dương Huyễn Chi (Yang Xuanzhi) thời kì Bắc Nguỵ ghi: “Lúc (các ni cô) vào cung, sau khi thuyết pháp cho Thái hậu phải mặc áo nâu; ai cũng như thế”. Với chiều hướng làm cho khác biệt, nên biến đổi từ hoàng y (y vàng) thành truy y (màu nâu). Tăng sử truyện ghi cao tăng Tuệ Lâm thời nhà Tống khi vào triều chính hay đắp truy y, nên người đời gọi Tuệ Lâm là “Hắc y tể tướng” (黑衣宰相). Hắc y cũng là đối lập của bạch y, nên cư sĩ còn gọi là bạch y, nói đủ là bạch y cư sĩ.

Xuất trần thượng sĩ, phi tích cao tăng”: Xuất trần là chỉ cho người xuất gia thoát khỏi bụi trần. Thượng sĩ còn gọi là đại sĩ, đại nhân, là tên gọi khác của vị Bồ-tát. Thích thị yếu lãm ghi: “Làm không lợi mình lợi người gọi là hạ sĩ, có lợi mình lợi người gọi là trung sĩ, cả hai đều lợi là thượng sĩ”. Thích thị yếu lãm giải thích ý nghĩa chữ ‘phi tích’ nhằm chỉ bậc cao tăng trước đây khi xuống núi đến núi Ngũ Đài đều chống tích trượng. Cao tăng Ấn Độ khi đến Trung Hoa hoằng pháp cũng được gọi là Phi tích. Tăng nhân vân du đây đó đều dùng tích trượng. Đức Phật chế định dùng phi tích để vân du đó đây, cũng là 1 trong 18 hạnh đầu đà.

Hoàng hoa tuý trúc” là mô tả cảnh vật “Trúc xanh hoa vàng”. Thiền ngữ có câu “Trúc biếc xanh xanh, rốt là chân như; hoa vàng rộ nở, đều là bát-nhã”. Cuốn Chỉ nguyệt lục (指月綠) viết về cuộc đối thoại thiền học của Thích Ứng Từ 
(釋應慈) hiệu Hoa Nghiêm Toạ Chủ (華嚴座主) hỏi Hòa thượng Đại Châu: Hòa thượng sao chẳng nhận thấy trúc biếc xanh xanh  rốt là pháp thân, hoa vàng rộ nở đều là bát-nhã?. Đáp: pháp thân vô tướng, nên trúc biếc mà nên hình; bát-nhã vô tri, nên hoa vàng mà bày tướng. Nào ngoài thứ trúc biếc hoa vàng mà có pháp thân bát-nhã.”

Bạch ốc thư sinh” là kẻ học trò thức khuya dậy sớm viết cạn mực giấy nhưng số phận rủi ro bị thi rớt. Kẻ nho nhã lấy việc nghiên tầm sử sách của bậc hiền triết làm sự nghiệp, nhưng bởi do chế độ phong kiến mục nát nên không được trọng dụng, cam chịu vận mệnh ‘học tài thi phận’ mà không được ghi danh bảng vàng. Luống uổng thay!

Thiết nghiễn ma xuyên” là kẻ thư sinh nung đúc ý chí sôi kinh nấu sử mà không gì lay chuyển, chông đèn học trọn canh thâu. Bài thơ Đọc sách đêm lạnh (寒夜读书 Hàn dạ đọc thư) của nhà văn học Lục Du thời Nam Tống ghi: “Gian nan đọc sách đêm tịch mịt, miệng đọc tay viết biết bao năm”. Ham học đến mức độ “Đèn đuốc canh ba gà canh năm gáy” để mong có ngày vinh hiển tổ tông, nhưng vĩnh viễn chẳng thành, chỉ còn là giấc mộng Nam kha.

Phong sương bất trắc” là kẻ đi buôn bị gió bão thổi lật thuyền, kẻ xa quê, rời vợ lìa con, xa cách người thân để tạo dựng cơ nghiệp, mong có một ngày dư dật tiền của, nhưng chẳng may bị hải tặc giết chết hay thân xác chìm sâu dưới dáy biển làm mồi cho loài thuỷ sinh. Muôn trùng cách biệt mà không thể sum họp với người thân.

Nhìn chung, những lời văn này phần nhiều miêu tả cảnh vật buồn tênh, đêm thâu lạnh thổn thức những canh dài trong lòng người, tiếng chim cuốc kêu thê lương, người anh hùng kẻ tướng soái nay nam chinh mai bắc chiến, toàn phơi bày chuyện đau buồn mà chẳng mang lại tâm thái giải thoát theo quan điểm Phật giáo, “Văn từ phần nhiều sáo rỗng, nhiều điển tích vô hồn”. Văn chương ấy lưu truyền thiên cổ, bởi vì “Được cho là hay, vì thói quen. Và cũng do trình độ thưởng thức văn chương của người nghe”.Nếu áp dụng văn thỉnh này thì sẽ không hợp với ngữ cảnh, ngữ văn ở trong nước, nhưng thông qua đọc âm Việt nhưng chữ Hán sẽ tạo nên ý vị lắng sâu và ray rứt tâm can, “Đặc vị văn chương của nó không lấy người sống làm đối tượng. Tự tình nồng nàn được phát tiết như là những tiếng ngậm hờn thiên cổ, sống không nói được, chết chôn vùi theo cát bụi”.Khi nghe tiếng triệu thỉnh theo cung ‘Nam ai’ thoang thoảng giữa đêm khuya thì mặc dù không hiểu ý nói gì, nhưng vẫn hằn in cõi lòng, diễn bày khung trời “Màu sương trăng lạnh phủ trên cánh hoa đào, dòng máu oan thiên hận sự bất thành nhuộm đỏ đầu cây ngọn cỏ. Vậy thì, giang sơn như bức hoạ còn đó, mà anh hùng hào kiết một thời ở đâu, và đâu là ảo vọng của đời người”.Đúng thật âm hưởng biến dịch của kiếp người phảng phất đơn lẻ, cũng là phản ánh cõi trần vô thường.

Trích từ: Chú giải nghi Huế (bản thảo)



Quách Xán Kim,” Sao chí tôn là cửu ngũ”, đăng trên Giải phóng nhật báo, 5-2010

Nguyên văn “Chữ đậu nhiên đậu cơ, đậu tại phủ trung khấp, bổn thị đồng căn sinh, tương tiên hà thái cấp 煮豆燃豆萁, 豆在釜中泣, 本是同根生, 相煎何太急”. Thời này cũng có người nói bài thơ này là ngụy tạo

Huỳnh Hạ Niên, Thích Trung Nghĩa dịch, Lịch sử Phật giáo Trung Hoa cổ đại, phần “Đức Phật và đô thị Phật giáo”, Nxb. Hồng Đức, 2014, tr.383

Sđd

Sđd

theo Vương Tú Chi chủ biên, Bách khoa động vật (动物百科), Nxb. Đại bách khoa Trung Quốc, 2009

theo Vương Tĩnh biên trứ, Sử thoại ngự hải ( 王静编著,驭海史话), Nxb. Khoa học kỷ thuật Hà Bắc, 2015

Theo lời giải thích của ngài Tuệ Sỹ trong cuốn sách mỏng “Lễ tháng bảy cho những oan hồn phiêu bạt”, Ban tu thư Phật học, Pl: 2546

trứ tác quyển Nhất thiết kinh âm nghĩa

Tuệ Sỹ, Lễ tháng bảy cho những oan hồn phiêu bạt, tr.21

sđd

sđd, tr.19

sđd, tr.21

Hơn 130 Lạt-ma Phật giáo từ các khu vực khác nhau của Nga và Mông Cổ đã thực hiện nghi lễ khánh thành hàng giờ ở Tsogchen-dugan, ngôi chùa chính của Aginsky Datsan, tu viện Phật giáo lớn nhất ở khu vực Transbaikalia của Nga. Ngôi chùa đã được xây dựng lại sau khi bị đốt vào năm 2014. 

Theo người đứng đầu của tu viện, Badma Tsybikov, nghi lễ bao gồm 135 Lạt-ma đến từ các vùng khác nhau của Nga, cũng như từ Mông Cổ. Buổi lễ được dẫn dắt bởi người đứng đầu Tăng già Phật giáo Nga Damba Ayusheysv là ngài Lạt-ma Pandito Khambo. 

Tạbikov nói thêm rằng công việc tái thiết chính đã được hoàn thành, nhưng một số công việc vẫn cần phải được thực hiện tại bệ thờ, nơi một bức tượng Phật lớn được lên kế hoạch dựng lên. Các bức tường của ngôi chùa cũng vẽ lại trong năm tới. "Nhưng hoạt động của ngôi chùa đã bắt đầu từ hôm nay", vị Lạt-ma này nhấn mạnh. 

Theo công ty trùng tu Lotos, sau vụ hỏa hoạn, chỉ còn lại nền và bức tường của ngôi chùa. Ông Bair Zhamsuyev, người đại diện cho khu vực Transbaikalia trong Hội đồng Liên bang (Thượng viện), cho biết Bộ Văn hoá Nga đóng vai trò chính trong việc tài trợ công tác tái thiết. 

"Trong 3 năm, Bộ đã phân bổ khoảng 100 triệu rúp (1,6 triệu USD) cho dự án này theo một chương trình mục tiêu của liên bang. Nếu không có điều đó, hôm nay sẽ không có lễ khánh thành này”, ông Zhamsuyev nói. 

Bên cạnh đó, ông Zhamsuyev hoan nghênh các cư dân của Transbaikalia và các khu vực khác của Nga, những người đã hiến 21 triệu rúp (349.000 USD) trong 3 năm. Ngoài các Lạt-ma Phật giáo, hàng trăm tín đồ cũng tham dự lễ cúng dường.

Nghi lễ sẽ tiếp tục vào thứ Bảy (12-8) với một buổi hòa nhạc và các cuộc thi đấu thể thao sẽ diễn ra. 

Ngôi chùa được xây dựng vào thế kỷ 19 bị đốt cháy vào ngày 27-5-2014. Các nhà sư và tín đồ đã di dời kinh sách, bàn thờ và xá-lợi cũng như tượng Phật Thích Ca Mâu Ni khỏi ngôi chùa đang cháy.

Văn Công Hưng (theo Tass)

Sáng nay, 12-8 (nhằm ngày 21-6 nhuận- Đinh Dậu), ngày thứ hai trong khóa cấm túc tu tập 10 ngày tại Việt Nam Quốc Tự (Q.10, TP.HCM), gần 100 vị là chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội TP, quận, huyện và các ban trực thuộc đã thảo luận về nghi thức thiền gia.

ANHBT (6).JPG
HT.Thích Trí Quảng chủ trì buổi pháp đàm

Buổi pháp đàm do HT.Thích Trí Quảng, Phó Pháp chủ HĐCM, Trưởng BTS GHPGVN TP.HCM chủ trì; TT.Thích Lệ Trang, Phó Trưởng ban Nghi lễ T.Ư, Trưởng ban Nghi lễ Phật giáo TP trình bày về “Nghi lễ thiền gia”.

Theo TT.Thích Lệ Trang, nghi lễ thể hiện qua cách sống của người xuất gia trên thiền đường. Lễ phần nào đó là cách bày tỏ nội lực của mình, lễ không do mình tự chế ra mà nó có những khuôn mẫu do chư Tổ để lại, trên cơ sở đó các thế hệ sau kế thừa mà thực hành.

ANHBT (4).JPG
TT.Thích Lệ Trang nói về quy cũ thiền gia

ANHBT (3).JPG
Chư tôn đức của khóa cấm túc 10 ngày

Nghi lễ của thiền gia nên chia làm 2 phần: nghi lễ đại chúng và nghi lễ truyền thống. Nghi lễ đại chúng nên Việt hóa, như các lễ: tưởng niệm, Phật đản…; những buổi lễ thuần túy mang tính cầu nguyện mà chư tôn đức Phật giáo cả 3 miền có thể chấp nhận được. Nghi lễ truyền thống do chư Tổ để lại, trên quan điểm có khế cơ, qua cách xướng lễ…, qua hành trì thể hiện sự an lạc, nhất là trong các khóa An cư cấm túc.

Thượng tọa mong, qua pháp đàm này, chư tôn đức sẽ thảo luận, tìm ra phương hướng thống nhất về quy cũ thiền gia, về một mô hình cho chư Tăng TP.HCM có thể ứng dụng. Qua một ngày sinh hoạt tùng lâm, một ngày cấm túc với các thời khóa: công phu, tụng sám, tụng chú Lăng Nghiêm, thiền tọa, v.v... ; cách thức sử dụng năng lượng của âm thanh (giọng thiền, giọng ai) trong các thời tụng niệm, chư tôn đức có thể nhận ra phần nào thêm, phần nào giảm.

ANHBT (2).JPG

ANHBT (7).JPG
Tham gia thảo luận về nghi lễ thiền gia

HT.Thích Trí Quảng chủ trì khóa pháp đàm cho biết, trong khuôn khổ của pháp đàm, lấy trí tuệ tập thể quyết định, khóa tu lần này không tham vọng thống nhất nghi lễ Phật giáo cả nước vì mỗi miền, nghi lễ có đặc trưng riêng. Ở đây, chúng ta cần tìm ra mô hình, thống nhất các nghi lễ của TP.HCM để ứng dụng lâu dài, không để mất gốc, nhưng cũng không quá cố chấp.

ANHBT (10).JPG
HT.Thích Huệ Văn tham gia thảo luận

ANHBT (5).JPG
Hơn 100 vị chúng nội thiền và ngoại thiền tham gia pháp đàm về nghi lễ

Đa phần chư tôn đức Tăng tại khóa cấm túc cho rằng, khóa tu có nhiều lợi ích thiết thực qua các thời tu tập, sinh hoạt về nghi lễ… Chư tôn đức cũng yêu cầu mỗi năm, Giáo hội TP nên tổ chức một khóa cấm túc như thế này nhưng không rơi vào thời điểm mùa an cư để chư tôn đức có thể được tham gia rộng rãi hơn.

ANHBT (1).JPG
HT.Thích Minh Cảnh phát biểu thảo luận

ANHBT (9).JPG
Đóng góp ý  kiến về nghi lễ

ANHBT (8).JPG

ANHBT (11).JPG
Ngày mai, chư tôn đức tiếp tục bàn về quy cũ thiền gia

PV GNO tiếp tục cập nhật thông tin sinh hoạt của chư Tăng trong khóa cấm túc 10 ngày tại Việt Nam Quốc Tự do GHPGVN TP.HCM tổ chức đến bạn đọc quan tâm.

H.Diệu Ảnh Bảo Toàn

http://giacngo.vn/thoisu/tintuc/2017/08/12/7FD2C0/

Thứ tư, 28 Tháng 6 2017 21:28

Hạnh Phúc

Một cách đơn giản để hạnh phúc là trân trọng những gì mình đang có.

Vậy là cậu đã hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp cuối khóa. Tuần trước, cậu có xin phép ba và mẹ, khi nào thi tốt nghiệp xong thì về miền tây thăm ông bà ngoại, thế là cậu đã được như ý nguyện. Cậu ngồi trên chiếc ô tô 7 chỗ cùng với anh hai, chị ba và ba mẹ, cậu cảm thấy mình hạnh phúc rất nhiều so với tụi bạn đồng trang lứa.

Người hùng thế kỷ” là tên Facebook của cậu mà bốn năm trước cậu đã lập cho mình. Ban đầu, cậu chỉ kết bạn với tụi bạn học cùng lớp, nhưng sau này, vì nhu cầu trao đổi của tuổi học trò và đặc biệt là thích tìm cảm giác mới lạ mà cậu hay chia sẻ với các bạn trên Face, nên cậu đã không ngần ngại kết bạn với các anh chị lớn hơn mình vài tuổi, thậm chí có người đã ngoài sáu mươi, cậu gọi những bạn ấy là “bạn sành đời”.

Từ khi cậu có 500 người bạn trên Face thì cậu đã quên hẳn đi những người bạn học cùng lớp. Sáng nào cậu cũng có mặt tại lớp sớm nhất, nhưng chẳng ai biết cậu có mặt. Cậu nằm dài ra trên nền gạch cuối lớp, tay cầm chiếc máy thông minh lướt liên tục, đó là thói quen mà cậu cho là “sống phải biết quan tâm đến những người xung quanh mình”. Kỳ thi tốt nghiệp đã đến, cậu cũng chẳng bận tâm, vì bẩm tánh cậu là người thông minh, học bài chỉ mấy phút là thuộc, cậu cứ đinh ninh là mình sẽ thi đậu. Chỉ còn một ngày nữa là ngày thi đầu tiên bắt đầu, lúc này, cậu tìm đến mấy đứa bạn thân để hỏi tài liệu, nhưng không kịp, tài liệu quá nhiều. Cậu trấn an, mở Face, trả lời tin nhắn của mấy người “bạn sành đời”, em sẽ đạt điểm cao trong kỳ thi này.

Ngày đầu tiên, cậu bước vào phòng thi với tâm trạng bất an, trong đầu cậu không có một chữ nào cả, kết quả sẽ như thế nào, mặt tái xanh, mồ hôi trên người cậu tuôn ra như mưa. Phen này “người hùng thế kỷ” sẽ ra sao đây? Cậu thầm thì. Kết quả không khả quan, cậu chỉ viết được nửa mặt giấy, hình như đó chỉ là bài luận ngắn về mùa thi, cậu không làm bài được, cậu thừa biết số điểm của bài thi này. Hôm ấy, cậu ra về với nét mặt buồn bã và luôn cúi đầu trước mọi người, cậu đã sai.

Rồi ngày thi thứ hai cũng đã kết thúc, kết quả khả quan hơn, cậu tin mình sẽ đạt điểm cao, vì cậu đã thức suốt một đêm để học bài.

Kể từ đó, cậu cũng không còn quan tâm mấy đến trang face book của mình nữa, cậu bắt đầu biết quan tâm đến những người xung quanh bằng xương bằng thịt bên cạnh cậu, chứ không phải bằng hình ảnh trên chiếc máy thông minh. Cậu đã có được những ngày hạnh phúc thật sự với mẹ, cha và anh chị của mình. Cậu đã có được bến đỗ bình yên nhất của cuộc đời, mà không phải ai cũng có được.

Góc cảm xúc

Nguuồn từ: http://chuavanduc.vn/goc-cam-xuc/goc-cam-xuc/hanh-phuc.html

Thứ tư, 28 Tháng 6 2017 21:24

Biết đủ là người giàu nhất


Không nghĩ đến vật chất, không nghĩ đến ăn, ăn uống đơn giản, 
có gì ăn nấy, chắc chắn tâm được nhàn hạ, đi thẳng vào thế giới Thiền dễ dàng


Hôm nay có lễ quy y cho Phật tử, nên trước khi giảng về chủ đề chính, tôi nói về ý nghĩa quy y Tam bảo. Sau khi Đức Phật thành đạo ở cội bồ-đề, Ngài tới Lộc Uyển thuyết pháp đầu tiên để độ năm anh em Kiều Trần Như, giúp họ đắc quả vị A-la-hán.

Bấy giờ, Ngài nói từ đây về sau, ai muốn trở thành đệ tử Phật, phải quy y Tam  bảo, vì trước đó, người ta nghĩ quy y Phật là chỉ theo Phật, nhận Ngài là bậc Thầy dẫn đường tâm linh cho mình. Nhưng Phật dạy rằng quy Phật mà chỉ theo Phật là chưa đủ, phải học giáo pháp, thực hành giáo pháp và phải kính trọng Tăng. Nếu chỉ kính trọng Phật, nhưng không nương theo giáo pháp mà Ngài chỉ dạy để thể hiện trong cuộc sống, đôi khi trở thành phá pháp; đó là ý quan trọng mà Phật tử phải ghi nhớ. Và quy y Phật, nhưng không kính trọng Tăng, xem thường Tăng là phạm tội. Vì vậy, quy y Phật, nhưng không quy y Pháp và không quy y Tăng thì Phật không công nhận là đệ tử của Ngài.

Quy y Phật thì Phật là Thầy dạy chúng ta cách tu hành để chúng ta cũng đạt được quả vị Phật. Phật không phải là vị thần có khả năng ban phước giáng họa cho ta, như một số tôn giáo khác chủ trương.

Và Phật dạy pháp tu thì những người xuất gia theo Phật lúc bấy giờ cũng có bạn đồng tu, đồng sự, nên Tăng chính yếu là những bạn đồng tu. Vì ban đầu, chỉ có Tăng đoàn, nên Phật dạy rằng muốn tu, tức gia nhập Tăng đoàn, sống với chư Tăng, tất yếu phải được chúng Tăng đồng ý. Như vậy, quy y Tăng ở bước ban đầu là Tăng quy y Tăng, không phải Phật tử tại gia quy y Tăng.

Riêng đối với tôi, hiểu yếu lý của quy y Tăng là phải chấp nhận những việc mà chư Tăng sai làm. Thí dụ, chư Tăng sai tôi điều hành sinh hoạt của Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, hay xây chùa Phổ Quang, chùa Việt Nam Quốc Tự… thì tôi làm, là quy y Tăng.

Và về sau, đệ tử Phật có Phật tử tại gia, đương nhiên Phật tử tôn trọng người xuất gia, vì người xuất gia thực tập pháp Phật nhiều hơn Phật tử. Thật vậy, Phật tử có thể hiểu sai lệch giáo pháp Phật dạy, trong khi người xuất gia thực tập miên mật pháp Phật nhiều hơn và họ chứng được từ Sơ quả đến A-la-hán. Như vậy, người xuất gia đã thực tập giáo pháp có kết quả tốt đẹp thể hiện trí giác và đạo hạnh của hàng đệ tử Phật đã hy sinh cả cuộc đời cho  lý tưởng giác ngộ giải thoát là yếu chỉ mà Phật đề ra. Vì vậy, Phật tử tu sau và bị gia duyên ràng buộc, không thể hiện được tinh ba Phật pháp, nên họ cần phải nương theo chư Tăng để tu học đúng đắn, đó là ý nghĩa của quy y Tăng đối với Phật tử tại gia.

Hôm nay, Phật tử quy y với tôi, không phải chỉ biết có tôi, học với tôi, kính trọng tôi. Quý vị nên nhớ thêm rằng mình đã quy y Phật, Pháp, Tăng, nên đối với bất cứ chư Tăng nào ở đâu, cũng phải kính trọng. Thứ nhất là kính trọng hình thức Tăng. Thí dụ các vị xuất gia ngồi trước tôi là hình thức Tăng mà chúng ta phải kính trọng.

Tuy nhiên, kính trọng hình thức Tăng, chúng ta cũng gặp tu sĩ giả, Tăng giả. Chúng ta còn nhớ Phật kể về tiền thân của Ngài trong một kiếp quá khứ, Ngài là Kim mao sư tử nghe một vị La-hán thuyết pháp, nên sư tử đã phát tâm cung kính chư Tăng. Tên thợ săn đã lợi dụng niềm tin của Kim mao sư tử đối với Tăng sĩ bằng cách mặc áo Sa-môn để có thể đến gần giết nó. Khi thấy hình bóng của chư Tăng, nó đã mọp xuống tỏ lòng cung kính, tên thợ săn thừa dịp này bắn cung tên tẩm thuốc độc giết chết sư tử.

Hình thức Tăng bên ngoài giống nhau, nhưng bên trong có Hiền Tăng, Thánh Tăng, nghiệp tăng, phàm tăng. Hiền Tăng là người tu thật, không màng phú quý lợi danh, xuất gia để đi trên con đường giải thoát của Phật. Và nghe Phật dạy rằng người biết đủ là người giàu nhất, nên người ta từ bỏ cuộc sống thế tục, xuất gia, tìm nghĩa lý tại sao biết đủ lại là người giàu nhất. Và họ tu có kết quả, đạt được quả vị  La-hán thể hiện mẫu người phát túc siêu phương, tức là người vượt qua cuộc sống đời thường, không còn kẹt vật chất. Đó là hàng tam Hiền gồm Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán là Thánh.

Những vị tam Hiền và Thánh quả khác chúng ta ở cuộc sống tri túc, không mong cầu, vì còn mong cầu là còn tham. Theo Phật, biết rằng mong cầu chẳng những không được, mà còn gánh lấy khổ đau nhiều hơn. Thật vậy, Phật dạy trong kinh Bát đại nhân giác rằng:”Tham dục nhiều, lụy khổ thêm nhiều. Dạt dào sinh tử bao nhiêu, cũng vì tham dục mọi điều gây nên”. Và dục vọng của con người không bao giờ thỏa mãn.

Có thể khẳng định rằng người không biết đủ thì luôn luôn họ thấy thiếu. Nhưng biết đủ là Sa-môn theo Phật, từ bỏ nhà cửa, gia đình…, họ hơn người khác ở tâm an lạc. Thật vậy, có trải nghiệm mới nhận ra cái lý là từ bỏ tất cả sẽ có tâm an lạc. Thực tế cho thấy khi chúng ta có bất cứ sở hữu vật chất nào, chúng ta cũng kẹt vô đó, vì phải lo toan nhiều. Thí dụ đơn giản, khi Nhà nước giao chùa Phổ Quang cho tôi và chư Tăng giao tôi xây dựng chùa này.

Lúc chưa giao việc này, tôi thấy nhàn hạ, nhưng lãnh việc rồi, bắt đầu có nhiều khó khăn phải giải quyết, hết việc này đến việc khác xảy ra. Trong đầu toàn là tiền bạc, xi-măng, sắt thép, thợ thuyền…

Vì vậy, có chùa Phổ Quang và bắt đầu khởi công xây dựng, tôi mới tìm cái an trong bất an để sống. Người tu không nhận ra lý này và không thực hiện được lý này thì phải khổ sở vô cùng cho đến bị đọa. Nhưng thành thật mà nói nhờ nhận chùa này, xây dựng chùa này mà tôi phát hiện ra phương pháp tu hành là thân tâm được an trong cảnh bất an.

Ngoài ra, từ đầu tôi không có gì, cuộc sống hoàn toàn thực sự nhàn hạ, muốn thiền mấy tiếng, mấy ngày cũng được, không ăn thì nhịn cũng không sao. Nhưng khi Đại hội Phật giáo thống nhất năm 1981, cử tôi làm Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương, phải đi hoằng pháp cả nước. Bấy giờ, tự nhiên tôi phải nghĩ hoằng pháp thế nào, hoằng pháp ở đâu. Đó là việc mà Tăng sai, nhưng mình không làm là chống lại chư Tăng, như vậy không thực hiện lời Phật dạy về quy y Tăng thì không phải đệ tử Phật.

Sau Đại hội Phật giáo thống nhất, tôi đã đắp y đảnh lễ Đức Pháp chủ Đức Nhuận, tôi thưa rằng Hòa thượng đã sống 25 năm ở xã hội chủ nghĩa, ngài biết rõ phải làm sao. Vì con ở miền Nam, chưa biết, xin Hòa thượng thương xót chỉ dạy.

Hòa thượng trả lời rằng người ta cho làm gì thì làm đó, cho nói gì thì nói đó, tức nói và làm đối với xã hội. Còn tu hành là trong lòng mình tu như thế nào để chứng được từ Sơ quả đến A-la-hán, cho đến thành Phật. Vì vậy, việc tu là việc riêng của mình, còn làm và nói phải theo luật pháp mới được an. Thật vậy, thiết nghĩ việc tu hành, không ai cấm được, vì Thức của mình còn không bị kiểm soát, huống chi là tâm của người tu.

Phật dạy rằng vì chúng ta mang thân tứ đại, người thấy ta được, họ mới nghĩ đến quản lý ta, sai chúng ta làm. Nếu ta không có thân này thì ai quản lý ta được, ai bắt nạt ta được, ai làm gì ta được. Vì vậy, còn mang thân người, phải nhớ đừng làm khác, nói khác những gì luật pháp cho phép, nếu không sẽ bị ở tù.

Suốt 25 năm tôi hành đạo yên ổn nhờ luôn ghi nhớ lời Đức Pháp chủ dạy. Còn suy nghĩ bên trong của tôi là gạn lọc tâm để đắc đạo; nói cách khác, trong tâm và Thức của tôi hoàn toàn tự do. Từ đó tôi phát hiện được việc cắt bỏ vật chất, tâm hồn mình sẽ trở nên thênh thang. Trong khi trước kia, còn kẹt vật chất thì chỉ một việc đơn giản như từ chùa Phổ Quang về chùa Huê Nghiêm cũng phải lệ thuộc nhiều mặt và đối với cuộc sống ở thế giới này còn vô số lệ thuộc khác nữa. Nhưng tu hành, Thức của chúng ta hoàn toàn tự do, tự tại.

Tôi thường nói quý vị mang thân vật chất này đi hành hương Ấn Độ quả là khổ sở. Còn trường hợp Sư cụ Hư Vân từ Phổ Đà sơn lên núi Ngũ Đài sơn, cứ ba bước ngài lạy thì không thể diễn tả nổi cái khổ đến mức nào. Thiết nghĩ lê xác phàm đi cực khổ vô cùng. Vì vậy, tu hành, chúng ta tập thoát ly thân này và càng thoát ly được nhiều thì chúng ta càng nhẹ nhàng.

Để thoát ly thân, Phật dạy chúng ta hạn chế ba việc là ăn, mặc, ở. Người lệ thuộc ăn, mặc, ở, dù họ có của cải vật chất nhiều đến đâu, họ vẫn nghèo, vẫn khổ. Không lệ thuộc ăn, mặc, ở, chúng ta hoàn toàn giải thoát khỏi thân tứ đại, cuộc sống trở nên thanh thản.

Thể hiện ý này, Phật dạy hạnh đầu-đà mà Ngài đã trải qua, không ngủ ở một gốc cây hai lần, không ăn cơm một nhà hai lần. Thân cứ đi mãi trên con đường tìm đến chân lý, như vậy mới đi xa vào thế giới vô hình.

Tu hành, đầu tiên, thân đâu tâm đó, là thân và tâm cùng đi. Nhưng có người thân đi mà tâm không đi, thân họ tới giảng đường này, nhưng đầu của họ ở chỗ khác, nghĩ cái khác. Thân họ đi chùa, nhưng tâm không đi chùa, thân họ lễ Phật, nhưng tâm không lễ Phật; vì người lạy Phật, họ cũng lạy theo. Thân đi, tâm không đi là đi theo quán tính.

Trái lại, có người tâm đi thân không đi, thí dụ họ ở nhà, không đến chùa được, nhưng họ vẫn muốn tới chùa lễ Phật, nghe pháp, nên tâm họ đã đến chùa lạy Phật và tham dự pháp hội.

Tôi bắt đầu tập pháp này, ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng tâm tôi đi tới Bồ Đề Đạo Tràng, vì tôi đã hình dung ra tháp Đại giác và cây  bồ-đề, tức hình dung ra đấng Đại giác và những lời dạy của Ngài.

Đức Phật Thích Ca nói không phải Ngài là người đầu tiên giác ngộ, thành đạo ở Bồ Đề Đạo Tràng, trước Ngài đã có Đức Phật Ca Diếp thành đạo nơi đây. Vì lúc thân tâm Phật đến Bồ Đề Đạo Tràng, Ngài thấy chỗ này rất quen thuộc, nên Ngài ngồi lại ở cây bồ-đề và vận dụng tâm đi xa thêm, mới thấy Phật Ca Diếp đã hiện hữu và thành đạo nơi này và tiến xa hơn nữa, Ngài thấy có Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Câu Lưu Tôn cũng ngồi ở cội bồ-đề thành đạo. Nghĩa là Phật Thích Ca đã dùng tâm đi ngược thời gian về quá khứ, thấy rõ sự việc quá khứ.

Thân đi xa rất khó, nhưng dùng tâm ta đi thế giới khác một cách nhẹ nhàng. Thật vậy, trong kinh Di Đà, Phật nói mỗi sáng người ở thế giới Cực lạc lượm hoa trời đi khắp mười phương cúng dường, trở về còn kịp giờ ăn trưa.

Mới tu, tôi nghĩ về Tịnh độ sống, vì thân và tâm được thanh tịnh,  an lạc; nhưng về sau, tôi nhận ra cái lý này, nên thấy khác. Người ở Tịnh độ từ Liên Hoa hóa sanh, họ cũng có thân, nhưng thân tinh khiết như hoa sen và tâm trong sáng như ngọc Ma ni, không phải là thân tứ đại đầy đủ nghiệp ác, hôi dơ, bệnh hoạn… và tâm phiền não, mê muội như thân tâm của người ở Ta-bà.

Chúng ta tu Pháp hoa, phát nguyện đời đời kiếp kiếp làm hành giả Pháp hoa, tức là làm sao mình có thân tinh khiết như hoa sen ở trong bùn, nhưng không nhiễm bùn và tỏa hương thơm cho đời và có tâm sáng suốt hoàn toàn. Đó cũng chính là cốt lõi mà Phật muốn dạy chúng ta tu hành phải kết thành thân tâm hoàn hảo như vậy. Các sư Tây Tạng thường tụng Om Ma Ni Pad Me Hum, nghĩa là viên ngọc Ma Ni nằm trong hoa sen.

Có thể nói nếu buông bỏ được tất cả sự lệ thuộc và có thân tinh khiết như hoa sen, có tâm sáng như ngọc Ma ni, chắc chắn chúng ta giàu nhất. Thật vậy, vì người có thân tâm như vậy mới có khả năng đi khắp mười phương để tạo thắng duyên cho người phát tâm sống theo Phật dạy.

Nói đến ý này gợi cho chúng ta suy nghĩ về việc cúng dường làm cho người phát tâm, hay làm người thoái tâm. Phật dạy rằng cúng dường mà khiến cho người phát tâm thì họ càng cúng dường càng giàu có, được khỏe mạnh và được an vui. Còn ai kêu gọi cũng cúng, ở đâu cũng đi và dẫn đến kết quả là hết tiền thì ai cũng tránh, khiến họ buồn phiền rồi nói bậy là đọa, vì đã làm người khác thoái tâm. Nói cách khác, đó là đem đồ ô uế bỏ vô biển Phật pháp. Người cúng như vậy, Phật, Thánh Tăng không thọ dụng.

Ngài Ưu Ba Cúc Đa là vị Tổ thứ ba sau Tổ A Nan, Ngài thường từ chối đi chứng trai. Cúng dường Phật, cúng dường Thánh Tăng không dễ, khó vô cùng. Cúng phàm Tăng, nghiệp Tăng thì dễ vì họ còn nghiệp, tức còn tâm tham muốn. Lên bậc Hiền Tăng đã không cần vật chất, họ chỉ cần ta có tâm cầu đạo.

Phật dùng lòng thành, không cần vật chất; nhưng thực tế chúng ta thấy những người tạo nhiều tội lỗi, nên đem của tội lỗi này cúng Phật để mong Phật rửa sạch tội cho họ. Phật, Thánh Tăng thấy của ô uế cúng dường thì tránh, vì mới lên Hiền vị đã không cần vật chất, huống chi là Phật, là Thánh đương nhiên không cần.

Người thật tu chỉ cần tâm tu của ta. Khi chúng ta có tâm thanh tịnh cầu đạo, Hiền Tăng, Thánh Tăng mới chứng. Tổ đình Huê Nghiêm ngày xưa có câu liễn ghi rằng Phật dụng hiền lương, mạc dụng tiền tài, tức Phật dùng tâm của người hiền lành, lương thiện, không dùng tiền tài.

Đem tiền cúng dường rồi nghĩ mình là nhất, xem thường người khác, như vậy đọa. Điều chính yếu theo Phật là làm cho người phát tâm. Thí dụ tôi đi tu làm người phát tâm, tôi có công đức. Vì tôi tu từ 12 tuổi cho đến nay 80 tuổi, ăn uống kham khổ, nhưng tu học được, nên người ta nói nhờ ăn chay được thông minh, khỏe mạnh, họ muốn tu theo tôi. Các cháu nói tu như ông là học giỏi, khỏe mạnh thì con muốn tu, nghĩa là làm người phát tâm.

Các vị ở Cực lạc có thân tinh khiết như hoa sen và tâm sáng như ngọc Ma ni và dùng thân tâm hoàn hảo đó đến với người khiến họ phát tâm theo Phật. Lý này cũng được Phật giáo Nguyên thủy chỉ dạy. Thật vậy, Phật dạy người tu đi khất thực không vì ăn, nhưng mang thân giải thoát và tâm trong sáng vào làng độ sanh khiến cho người trông thấy phát tâm. Như vậy, kinh Nguyên thủy và kinh Đại thừa luôn có sự tương đồng.

Đến khi năm anh em Kiều Trần Như tu theo Phật đều đắc quả A-la-hán, 50 thanh niên Da Xá thấy năm thầy Tỳ-kheo này tỏa sáng thân giải thoát và tâm trong sáng, họ liền buông bỏ sự nghiệp, để được xuất gia tu, thể hiện cái lý là tu làm cho người phát tâm sống theo Phật. Làm người thoái tâm là phá pháp, thí dụ mình tu, rồi kết cuộc là nghèo thiếu, bệnh hoạn, khổ sở khiến họ sợ, không dám tu. Xưa kia, ông Cấp Cô Độc theo Phật, ông càng cúng dường, bố thí thì càng giàu, họ mới theo ông cúng dường, bố thí. Phật nói bố thí, cúng dường được thành quả tốt đẹp như ông Cấp Cô Độc thì nên làm, vì ông đã làm cho người phát tâm.

Trở lại đề tài biết đủ là người giàu nhất. Thật vậy, thực tế chúng ta thấy những người giàu có, nhưng không biết đủ, họ vẫn cảm thấy thiếu. Điển hình như những ông vua đi chinh phục nhiều nước, mà có biết đủ đâu; họ vẫn thấy thiếu, nên mới tiếp tục thôn tính, giết hại nữa để vơ vét của cải về họ. Cho đến khi nào họ thất bại, khổ đau và chết, đọa địa ngục, may ra mới tỉnh.

Tu theo Phật, chỉ cắt bỏ lòng tham là thấy đủ, không thiếu gì cả và cắt bỏ hoàn toàn tất cả mọi tham vọng thì càng trở nên giàu thêm nữa. Kinh nghiệm của riêng tôi, khi đi học, tôi nghèo nhất, nhưng thực sự tôi giàu nhất trong đám sinh viên, vì tôi còn dư tiền giúp đỡ người hoạn nạn và tôi còn dạy kèm miễn phí cho nhiều học sinh thi đỗ vào đại học.

Tôi nghèo nhất, nhưng giàu, vì không có nhu cầu vật chất. Tôi có tiền ít, mà vẫn dư. Còn các sinh viên khác cần quá nhiều nhu cầu vật chất, nên dù họ có tiền nhiều, nhưng vẫn không đủ xài. Những người bạn nói câu dễ thương là ông tu không biết xài tiền, nên cho họ mượn. Họ là con nhà giàu, vật chất có nhiều hơn tôi, mà tháng nào họ cũng thiếu tiền. Trong khi tôi dư tiền. Một tháng được chuyển 150 USD, nhưng vì tôi nghèo, không có tiền chuyển, nên giao cho cha mẹ sinh viên ở Việt Nam chuyển tiền qua tôi, họ lấy 80, tôi chỉ còn 70; như vậy mà tôi còn dư tiền; còn họ mỗi tháng đã có 150 cộng thêm 80 của tôi mà vẫn không đủ xài.

Phật dạy chúng ta hạn chế ham muốn xuống sẽ có dư. Thực tế là sống dưới mức mình có, bao giờ cũng đủ. Sống trên mức mình có thì nguy hiểm, vì nợ nần chồng chất, đau yếu không có tiền chữa bệnh, tâm trí lo âu, buồn khổ…

Có thể khẳng định Phật là người giàu nhất trong thiên hạ, trong khi Ngài chỉ có một y, một bát. Chúng ta là Phật tử, sao không đi theo con đường giàu có của Phật và tu chứng được quả vị nào, như chứng Sơ quả thì đã hơn người là thân không bệnh hoạn, tâm không đòi hỏi vật chất, ăn gì cũng được, ở đâu cũng được. Tiền nhiều, nhưng đi bệnh viện hoài thì có hạnh phúc hay không.

Hạnh phúc của ta là thân không bệnh hoạn, tâm không buồn phiền, không tức giận, không lo sợ, vì ta tu theo Phật đã giải trừ được nghiệp chướng, trần lao, phiền não. Giải phiền não trước là diệt trừ tham, sân, si. Không tham muốn thì bước đầu chúng ta đã thấy đủ, lần lần chúng ta mới có dư và chúng ta biết đủ, không ham muốn, không buồn phiền sẽ tác động cho thân không bệnh hoạn.

Tâm an vui, thân khỏe mạnh là quan trọng nhất và tới đây, nhu cầu vật chất còn rất ít. Đức Phật đã thể hiện lý này cho chúng ta thấy trong cuộc sống giáo hóa độ sanh của Ngài, Phật đi khất thực bữa có thức ăn, bữa không có gì thì Ngài nhịn và sống trong Thiền định.

Theo kinh nghiệm tu của tôi, không có thức ăn, thấy đói là vì nghiệp mình nghĩ đến thức ăn, nên đói. Hòa thượng Thanh Kiểm dạy rằng đừng nghĩ đến thức ăn sẽ không đói và ngồi thiền, nhập định, không thấy đói, nên họ nhịn ăn từ một ngày đến bảy ngày là việc bình thường.

Không nghĩ đến vật chất, không nghĩ đến ăn, ăn uống đơn giản, có gì ăn nấy, chắc chắn tâm được nhàn hạ, đi thẳng vào thế giới Thiền dễ dàng. Trước kia, các thiền sư chỉ tôi là con gấu tuyết ở Bắc Cực sáu tháng ngủ, không ăn, không chết. Muốn không ăn, hãy thử ngủ như gấu tuyết.

Một thiền sư khác dạy rằng tu như con rùa là tập thở nhẹ để không tiêu hao năng lượng nhiều sẽ không cảm giác đói và không ăn thì không thải ra cặn bã. Nhốt con rùa không cho ăn, cả năm nó cũng không chết.

Tôi thấy vị Thiền sư nào không ăn nhiều sẽ không tỏa mùi hôi. Ăn nhiều có mùi hôi nhiều tiêu biểu cho nghiệp.

Tóm lại, tu theo Phật, được quả vị nào là cuộc sống tự tại đến đó, thấp nhất là Sơ quả đã có thân khỏe mạnh, không bệnh hoạn, tâm trong sáng, hiểu biết chính xác thì mới hơn người, sướng hơn người có nhiều của cải mất công lo giữ. Chỉ đơn giản không lệ thuộc ăn, mặc, ở, không cần giàu sang, là đã được an lạc vô cùng.

Cầu mong đệ tử Phật thể hiện mẫu người biết đủ, không bị trói buộc vì của cải vật chất và đời sống tâm linh luôn dồi dào để làm cho người phát tâm sống theo Phật.

HT.Thích Trí Quảng

Nguồn từ http://giacngo.vn/phathoc/triethoc/2017/06/27/7FC4CB/

Ở Thái Lan, có hơn 35 triệu người lái xe trên đường. Là một vùng đất của Phật giáo, 76% người Thái Lan đặt tượng Phật trên bảng điều khiển xe của họ, bởi vì họ tin rằng qua đó, Đức Phật có thể gia trì họ khỏi tai nạn đường bộ.

Theo thống kê, Thái Lan đứng thứ hai trên thế giới về số người thiệt mạng. Chủ yếu là do tai nạn gây ra bởi tốc độ lái xe. Quỹ Khuyến khích Y tế Thái Lan muốn giúp mọi người lái xe an toàn hơn và giảm nguy cơ tai nạn.

Qua đó, giới thiệu "tượng Phật hạn chế tốc độ" (phân phối dưới tên tiếng Thái là Phra Rod 2.0), tượng Phật đầu tiên trên thế giới có thể cảnh báo bạn phải tỉnh táo và thận trọng trong khi lái xe.

Sử dụng máy dò theo dõi GPS và máy dò tốc độ, tượng Phật có thể phát hiện các giới hạn tốc độ khác nhau được pháp luật cho phép trên mỗi con đường mà chiếc xe đang chạy.

Nếu người lái xe vượt quá giới hạn về tốc độ pháp luật, bức tượng sẽ tự động phát tiếng nói của Phre Payom (nhà sư nổi tiếng Thái Lan) được ghi âm trước bằng 9 thổ ngữ khác nhau, tất cả đều cảnh báo họ nên chú ý, đi chậm và lái xe an toàn hơn.

Văn Công Hưng (theo Little Black Book)


GNO - Một bản kinh thư thuộc Vương quốc Goryeo đã được tìm thấy hôm 24-5 qua, bên trong bức tượng Phật ở chùa Silsangsa ở Namwon, tỉnh Bắc Jeolla.

Viện Nghiên cứu Di sản Văn hoá Phật giáo cho biết đã phát hiện ra "Daebanyabaramildagyeong", một bản thánh thư có thể gập lại được viết bằng chữ bạc, bên trong bức tượng Phật ngồi ở chùa.

Chỉ có 4 bản kinh như vầy được tìm thấy ở Hàn Quốc. Trong số đó, một được tìm thấy bên trong tượng Phật Đại Nhật Như Lai của chùa Girim ở Gyeongju, được coi là báu vật quốc gia số 959.

Viện nghiên cứu cho biết họ đã tìm thấy bản văn trong khi đưa bức tượng Phật qua một máy quét tia X (computer tomography) ba chiều. Kinh được viết bằng mực bạc trên giấy làm bằng cây dâu tằm.

Bản kinh, một bản sao của quyển 396 thuộc bộ kinh 600 quyển Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa tâm kinh, ghi lại rằng bản kinh đã được tặng bởi một người tên là Yi Jang-gye và vợ.

Viện đã nghiên cứu những quyển sách cổ xưa để tìm hiểu về người tên Yi, nhưng đã vô ích. Lim Seok-kyu, một nhà nghiên cứu thuộc viện, cho biết: "Bản kinh được thực hiện để tôn vinh tổ tiên của họ và tránh khỏi những điều không may mắn".

Tượng Phật được tạo tác vào đầu thời kỳ Joseon, hoặc vào thế kỷ 14. Có khoảng 20 bức tượng Phật được làm theo cách tương tự trong suốt thời kỳ Goryeo và Joseon. Hình dạng bên ngoài của bức tượng thay đổi do có nhiều sửa chữa. Viện đã phát hiện ra hình dạng ban đầu dưới bề mặt mạ vàng thông qua chụp CT.

Văn Công Hưng
(theo The Dong-A Ilbo)

 Trong kinh kể lại, một hôm Phật hỏi các thầy Tỳ-kheo:

- Này các Tỳ-kheo, nếu trong thất của các ông có ba con rắn độc chui vô thì các ông có ngủ ngon không?

Các thầy thưa:

- Bạch Thế Tôn, chúng con ngủ không ngon.

Phật hỏi:

- Làm sao các ông ngủ mới ngon?

Các thầy thưa:

- Bạch Thế Tôn, chừng nào chúng con đuổi hết ba con rắn độc ra khỏi thất thì ngủ mới ngon.

Phật kết thúc:

- Ba con rắn độc tuy độc nhưng không độc bằng ba thứ tham, sân, si. Tại sao? Vì rắn độc cắn chỉ chết thân đời này thôi, còn tham sân si hại không những đời này mà còn qua đến nhiều đời khác nữa.

Đây là điều hết sức cụ thể. Người tu phải dẹp bỏ ba con rắn độc tham, sân, si mới có thể tu được. Làm sao để dẹp chúng? Nóng giận là rắn hổ lửa. Nếu nó ở trong nhà mình, chúng ta phải lấy roi nhẫn nhục để đuổi. Nhẫn là an nhẫn, nhịn nhục, dần dần nóng giận sẽ lắng dịu. Như ai nói câu gì trái ý làm mình nổi giận, miệng la tay múa. Tất cả những hành động khiến người ta khổ gốc từ nóng giận mà ra. Muốn nhịn, có người nói uống nước cho mát, nhưng nước qua khỏi cổ thì nóng lại nữa.

Bây giờ tôi đề nghị với quý vị một lối nhẫn thực tế hơn. Khi vừa nổi nóng chưa kịp mở miệng, chúng ta liền đọc câu thần chú này: “Nói là ngu, nín là khôn”. Cứ đọc tới đọc lui một hồi thì cơn giận hết. Vì sao? Vì khi nổi nóng mình sẽ nói bậy. Nói bậy tức là ngu. Vì vậy ta tự nhắc nói là ngu, còn im lặng là khôn. Cứ tự nhắc mình như vậy hoài sẽ không nói trong lúc đang nóng. Nhờ thế ta tránh gây khẩu nghiệp, tránh luôn cả thân nghiệp không tốt. Tự nhắc như thế chúng ta yên được một lúc. Nhưng sau đó nhớ lại cũng nổi nóng nữa, nên phải bước qua chặng thứ hai là quán từ bi.

Từ bi là sao? Từ bi là thương mến tất cả mọi người như thân nhân của mình. Nhưng họ chửi thì làm sao ta thương được? Chúng ta phải dùng trí suy xét kỹ, kẻ nói những điều thô lỗ vô lý là người tỉnh hay mê? Đó là người mê. Nếu người mê thì ta phải tỉnh mới khôn ngoan. Người tỉnh thì phải thương kẻ mê, chứ đâu thể giận họ được. Như vậy chặng thứ nhất là nhẫn để ngăn chặn sự nóng giận bộc phát, đến chặng thứ hai mới bứng tận gốc sân hận.

Đến tham làm sao trị? Tham dụ như rắn hổ mang. Loại rắn này thường chạy tứ tung, không chịu ở yên một chỗ. Tham có năm thứ: tham tài, tham sắc, tham danh, tham ăn, tham ngủ. Chúng ta trị tham như thế nào?

Tham tiền thì lấy thuốc vô thường trị. Tiền của tuy có nhưng sẽ mất bất cứ lúc nào. Phật dạy tiền của thường bị năm nhà lấy: một là bị nước lụt cuốn trôi, hai là bị lửa cháy tiêu, ba là bị trộm cướp, bốn là bị con bất hiếu phá, năm là bị quan quyền không lương thiện chiếm đoạt. Tiền của chúng ta tích lũy, gìn giữ được một thì muốn thêm hai, được hai muốn thêm ba bốn… cứ muốn tích lũy thêm hoài gọi là tham. Nếu chúng ta nhớ lại của cải nhiều, nhưng gặp tai nạn lửa cháy, nước lụt, con bất hiếu phá, hoặc bị trộm cướp rình rập cướp lấy… thì sẽ tiêu tan hết. Nên đó là của cải không bảo đảm.

Muốn được bảo đảm hơn chúng ta phải tu pháp bố thí. Giả sử một ngàn đồng đủ cho chúng ta sống trong một tháng, nếu mình có ngàn mốt ngàn hai thì tính để dành, đó cũng là hơi tham một chút. Bây giờ có dư ta giúp đỡ những người thiếu kém hơn mình, đó là bố thí. Vì vậy nói bố thí độ xan tham. Tất cả của cải thế gian đều có thể bị người ăn cắp, chỉ nghiệp lành của mình là không ai lấy. Cho nên đối với tham tài chúng ta dùng hai thứ thuốc để trị: một là quán vô thường, hai là bố thí.

Đến bệnh tham sắc. Đây cũng thuộc loại bệnh trầm trọng. Bệnh này lấy thuốc quán bất tịnh để trị. Quán thân nhớp nhúa bẩn thỉu, tự nhiên bớt tham sắc. Vì sao chúng ta dính mắc với sắc đẹp? Vì nhìn mọi người qua dáng vẻ bên ngoài, chứ không thấy tột cùng phần bên trong. Đức Phật thấy rõ con người chỉ là một đãy da hôi thối. Đó là lẽ thật mà chúng ta lại không dám nhận. Nghe hôi liền kiếm nước hoa bôi lên cho thơm, thấy đen liền lấy phấn thoa lên cho trắng. Đó là đánh lừa nhau, chứ không có lẽ thật. Sự thật thì từ đầu tới chân, chỗ nào cũng nhớp hết. Nếu thân thật đẹp đẽ, sang trọng, lẽ ra trong ngoài đều phải tốt đẹp, nhưng đằng này vừa có rịn chảy chỗ nào thì ta liền nghe hôi hám nhơ nhớp.

Đó là Phật dạy chúng ta thấy đúng như thật giá trị của con người. Khi đã thấy thân là đãy da hôi thối, mình có muốn tìm vài ba đãy da hôi thối ở chung nữa không? Một mình đã chịu không nổi rồi, còn thêm hai ba cái nữa thì quả là khổ! Nhờ quán vậy chúng ta không còn đắm mê sắc đẹp. Đó là chưa nói sắc đẹp không thể tồn tại lâu dài. Chỉ lứa tuổi thanh niên vẻ đẹp mới sung mãn, chứ tới bảy tám mươi tuổi thì da nhăn má hóp, lúc đó hết đẹp rồi. Cái đẹp chỉ tạm một thời mà người ta lại lầm mê, đắm đuối theo nó.

Phật dạy quán thân này nhơ nhớp, là quán ngay nơi mình chứ không phải quán nơi người khác. Nhiều người không biết, nghe Phật dạy quán thân bất tịnh, rồi thấy ai dễ thương liền quán trên người đó, quán một hồi thương thêm! Phải quán ngay nơi mình, biết rõ thân nhơ nhớp, gớm thân mình thì thân người khác cũng sẽ gớm. Quán bất tịnh thành công thì bệnh tham sắc không còn. Nên nói đó là thuốc trị bệnh tham sắc.

Đến tham danh làm sao trị? Tham danh là tham có chức quyền. Ví dụ người ra ứng cử quốc hội có lo không? Lo làm sao thu hút được quần chúng, nên cũng mất ăn mất ngủ. Kế lại lo cạnh tranh giữa những người được lòng dân, bởi đâu phải chỉ có mình ứng cử, như vậy khổ không? Nếu kết quả mình rớt thì khổ vô cùng, còn đậu mới thấy như vui nhưng thật ra cũng không vui. Vì lãnh trách nhiệm với dân phải làm cho được, nếu làm không được thì bị quở, như vậy cũng lo nữa. Đến khi mất chức lại càng khổ hơn. Như vậy trước khổ, giữa khổ, sau cũng khổ; ba thời đều khổ chứ sướng ích gì! Khổ mà người ta cứ tưởng vui, cho nên mới giành giựt với nhau. Người tu biết rõ tham danh là nhân đau khổ. Quán như thế thì trị bệnh tham danh.

Đến tham ăn, có ai không tham ăn đâu. Đại đa số đều thích ăn ngon. Như vậy, bệnh tham ăn làm sao để trị. Chúng ta phải dùng hai thứ thuốc: một là quán vô thường, hai là quán bất tịnh. Cái ngon không tồn tại được lâu, chỉ một phút nửa phút khi nhai, lúc thức ăn còn ở lưỡi thấy ngon, nhưng nuốt qua khỏi cổ rồi thành hôi dơ. Như vậy thức ăn uống chỉ là tạm bợ, ngon trong chốc lát, chứ không bền. Chúng ta ăn cốt để sống khỏe mạnh, chứ không phải ăn cốt để ngon. Nhiều khi vì muốn ăn ngon mình phải tốn hao tiền của gấp mấy lần ăn bình thường. Rõ ràng do tham ăn mà khổ, đó là chưa nói ăn ngon quá sanh bệnh. Cho nên việc ăn uống hạn chế vừa phải, đừng đòi hỏi, đừng tham lam. Đó là biết quán vô thường, quán bất tịnh để trừ bệnh tham ăn.

Đến tham ngủ lấy gì để trị? Tham ngủ là bệnh trầm trọng chung cho nhiều người. Ví dụ Phật tử biết tu, hẹn năm giờ khuya thức dậy tụng kinh, hoặc niệm Phật, tọa thiền. Nhưng đêm đó ngủ ngon giấc, nghe đồng hồ reo cứ lăn qua trở lại, một lát rồi thôi cho nó qua luôn. Đó là bệnh tham ngủ, cũng gọi là bệnh giải đãi, lười biếng. Đối với bệnh tham ngủ, có hai pháp để trị. Một là tinh tấn trị giải đãi, hai là quán vô thường. Khi đang ngủ, nghe tiếng kẻng hoặc đồng hồ reo không muốn thức, thì phải nhớ rằng ngày nay mình khỏe mạnh, nhưng chắc gì ngày mai cũng khỏe, nên giờ nào khỏe mạnh thì phải ráng tu, để mai mốt lỡ chết làm sao tu được. Đó là quán vô thường để đánh thức, để lay tỉnh chúng ta ráng tu.

Phật thường dạy phải quán vô thường như cứu lửa cháy đầu. Lửa rớt một đốm lên đầu, ta chờ năm mười phút sau mới phủi hay phủi liền? Vừa thấy lửa cháy đầu thì phải phủi liền. Cũng vậy, ngày nay chúng ta khỏe mạnh, ngày mai chắc gì khỏe mạnh. Vì vậy ngày nào khỏe mạnh thì ráng tu ngày ấy, không chần chờ. Đó là chúng ta biết thân này vô thường, không bảo đảm, lúc nào làm được gì thì cố gắng làm, không bỏ qua.

buddhist-737275_960_720.jpg
Phiền não do tham sân si mà ra. Nếu biết chừa, biết ngăn đón tham sân si thì phiền não sẽ giảm dần.

Nhờ quán vô thường ngay lúc đó ta trỗi dậy, đi rửa mặt rồi tụng kinh niệm Phật hoặc tọa thiền. Nếu cứ lăn qua trở lại dật dựa hoài thì không trỗi dậy nổi, con ma ngủ sẽ làm chủ mình. Quán vô thường xong, kế đó lấy roi tinh tấn đánh mạnh một cái, bắt nó trỗi dậy rửa mặt thì mình tu được, không bị mất thì giờ. Đó là phương pháp trị bệnh tham ngủ.

Như vậy, năm bệnh tham kể trên đều có thuốc trị. Chỉ vì Phật tử lâu nay không biết thuốc trị, nên gặp bệnh không biết làm sao. Trị được năm bệnh đó rồi thì chúng ta hết tham, hết sân.

Đến sau cùng là si. Si mê là gốc đau khổ nhất của cuộc đời. Nói theo đúng thứ lớp thì trước là si, rồi tới tham, sân. Sân là ngọn, si là gốc. Tại sao? Si mê là thấy không đúng như thật. Sự vật trắng mà mình thấy đen, xấu mà cho tốt, đó là si mê. Si mê là thấy theo ảo tưởng, trí tuệ là thấy đúng như thật. Người nào sống theo ảo tưởng sai lầm đó là người si mê.

Chữ si mê trong nhà Phật có chia từng loại. Loại cạn nhất không biết phân biệt thiện ác, tội phúc, chánh tà. Chúng ta tu phải biết rõ gì là thiện gì là ác. Trong nhà Phật dạy làm gì được tốt đẹp, sáng suốt, đem lại lợi ích cho mọi người, đó là thiện. Ngược lại làm điều xấu xa, đem lại nguy hiểm cho mọi người, đó là ác.

Phiền não do tham sân si mà ra. Nếu chúng ta biết chừa, biết ngăn đón tham sân si thì phiền não sẽ giảm dần. Nếu dẹp được mây phiền não thì ông Phật của mình hiện ra, không cần tìm kiếm ở đâu hết. Sống được với ông Phật thật của chính mình, đó là người biết tu, biết trở về cái cứu kính chân thật, nguồn an lạc vĩnh cửu. Ngược lại, chạy theo tâm suy nghĩ lăng xăng, chúng ta chỉ chuốc đau khổ mà thôi.

Chúng ta phải luôn tỉnh để tự cứu mình, chứ không ai cứu mình được. Nếu mê thì đi trong trầm luân muôn kiếp, còn tỉnh thì lần lần thoát khỏi phiền não, vượt ra vòng luân hồi sinh tử. Đó là chỗ cao siêu, cứu kính trong đạo Phật.

HT.Thích Thanh Từ

Thứ ba, 23 Tháng 5 2017 17:42

Về một nơi tu tập dành cho giới trẻ

Nhà chùa cần nhiều mô hình tu-học-sinh hoạt
để giới trẻ rèn luyện thân-tâm, nhất là dịp hè này - Ảnh: Thanh Niên

Trong bầu không khí hân hoan, hỷ lạc đón mừng mùa Phật đản PL.2561, chuyên mục Phật giáo - Tuổi trẻ trên Giác Ngộ số 895, ra ngày 10-4 ÂL, đăng tải một bài viết tưởng chừng như “lạc lõng”: Giới trẻ “đỏ mắt” tìm nơi tu học - bài báo như gióng lên tiếng chuông mạnh mẽ đánh động vào một thực tế đáng quan ngại. Phải chăng Phật giáo nước ta đang thiếu những pháp hành thích hợp với giới trẻ?

Theo tác giả bài báo, những địa chỉ thường hay tổ chức các khóa tu dành cho giới trẻ tại TP.HCM quanh đi quẩn lại vẫn là các chùa Hoằng Pháp, Phổ Quang, Giác Ngộ, tu viện Tường Vân…, nói chung chỉ đếm trên đầu ngón tay. Góc nhìn của tác giả có thể chưa bao quát được vấn đề, song dễ dàng nhận thấy những địa chỉ tu học dành cho người mong muốn thực hành giáo lý đạo Phật là ít ỏi, chưa thực sự tương xứng so với số chùa hiện có.

Mô hình tu tập phổ biến nhất của các chùa hiện nay ở TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung là các đạo tràng tụng kinh, niệm Phật và Bát quan trai giới. Những đạo tràng này thường thích hợp với những Phật tử thuần thành, đặc biệt với những người lớn tuổi. Giới trẻ nói chung và những người bước đầu tìm hiểu, mong muốn thực hành giáo lý Phật giáo thường e ngại những nơi “thuần túy” như thế. Vả chăng, mong muốn của họ là tìm được một phương pháp cũng như một nơi thích hợp để “tịnh tâm tu tập”, mục đích “lấy lại cân bằng” để tiếp tục “chinh chiến” giữa trường đời!

Trong lời phát biểu trước thềm Phật đản năm nay, một vị tôn túc lãnh đạo tinh thần của Trung tâm Phật giáo Maha Vihara - Malaysia nhấn mạnh: “Điều quan trọng nhất là lễ Vesak hướng con người đến chuyện học, thực hành các lời dạy của Đức Phật. Mỗi chúng ta cần nỗ lực cao nhất trở về thực hành các giá trị Phật giáo”. Tuy vậy, trong một phát biểu khác cũng vào dịp này, Thượng tọa Saranankara, trú trì chùa Sri Jayanti - Malaysia cho rằng: “Với giới trẻ, điều thu hút họ đến chùa chính là âm điệu của những ca từ văn nghệ và những khóa lễ sắc màu. Nếu bắt các em phải ngồi yên một chỗ và thiền tập thực sự là một điều vô cùng khó”. Đó chính là những băn khoăn, mâu thuẫn của những người hoằng pháp. Và, ở nước ta, các khóa tu dành cho giới trẻ có vẻ như đồng cảm với quan điểm của Thượng tọa Saranankara hơn.

Trên thực tế, nhu cầu thực hành Phật giáo chuyên sâu của một bộ phận giới trẻ, nhất là doanh nhân, trí thức và giới văn phòng… ngày càng cao. Với họ, thiền tập là một phương pháp hiệu quả, và trên một phương diện nào đó, không mang nặng tính tôn giáo, người khác đạo vẫn có thể thực hành. Thử liên hệ đăng ký những nơi thường mở các khóa thiền 10 ngày, điển hình như tịnh xá Ngọc Thành - Thủ Đức, mặc dù quy định khắt khe, song các khóa thiền này vẫn thường kín chỗ, phải đợi nhiều tháng mới có thể tham dự.

Bản thân chúng tôi cũng nhận được nhiều câu hỏi về những phương pháp an tâm, giải tỏa bấn loạn, stress, làm giàu năng lượng để sống “chất lượng” về mặt nội tâm của nhiều người trẻ là Phật tử hoặc chưa từng thực hành Phật giáo. Dĩ nhiên, muốn đạt được điều đó, những lời giảng suông sẽ không mang lại hiệu quả thiết thực; họ phải cần đến một phương pháp cụ thể và liên tục thực hành. Phương pháp thì nhiều, song ai sẽ là người hướng dẫn, và địa điểm nào hiện có thích hợp nhất cho họ?

Còn nhớ tại hội nghị toàn quốc về ngành Tăng sự của Giáo hội - năm 2016, Hòa thượng Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN đã nhận định tỷ lệ Phật tử trẻ chỉ khoảng 15% số tín đồ đạo Phật, còn lại là thành phần lớn tuổi. Đã đến lúc lãnh đạo Giáo hội, các vị trụ trì quan tâm hơn nữa đến vấn đề và nhu cầu thiết thực này.

Đăng Tâm

«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»
Trang 1 trong tổng số 10

Ảnh Đẹp

1 5.jpg
  • MP3 Nghe Nhiều

  • Tin Mới

  • Tin Đọc Nhiều

Suy Niệm Lời Phật Dạy

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Lịch và Đồng hồ

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Thăm dò ý kiến

Giao diện mới của Phật Học Thường Thức ?